- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? I. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2019/HS-ST Ngày: 29-5-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Châu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Minh Hoàng
2. Ông Nguyễn Văn Kiên
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn An Phước - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long - tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết Em - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2019/HSST ngày 08 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tấn L, sinh năm: 1992; nơi sinh: Tỉnh Vĩnh Long.
Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện H, tỉnh Vĩnh Long.
Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D – sinh năm 1967 và bà Bùi Ngọc Đ – sinh năm 1969. Vợ con: Chưa có.
Tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Phan Văn H, sinh năm 1997; nơi cư trú: Ấp M, xã N, huyện B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
- Người làm chứng: Anh Nhan Lực V, sinh năm 1999; nơi cư trú: Ấp A, xã H, huyện H, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 24/10/2018 Nguyễn Tấn L nhờ Nhan Lực V chở L đến lò bún Ba Khánh để mượn xe máy đi làm thì V đồng ý chở L đến địa chỉ trên sau đó quay về nhà. Khi đi L mặc áo thun là đồng phục mặc trong lò bún, khi đến lò bún L đi qua cổng cơ sở không thấy bảo vệ nên L đi thẳng đến nhà xe thì phát hiện xe mô tô biển số 51Y7-4793 của anh Phan Văn H có gắn sẵn chìa khóa nên L nảy sinh ý định lấy trộm. Sau khi quan sát không có người L lên xe khởi động rồi điều khiển xe chạy về nhà cất giấu. Đến 19 giờ 30 phút ngày 25/10/2018 L mang xe đến nhà trọ Hai Vĩnh thuộc xã P, huyện H, tỉnh Vĩnh Long gặp chị Trương Hoài T nhờ chị T đem xe bán dùm. Chị T dẫn L đến gặp Lê Văn T, ngụ tại ấp B, xã Q, huyện H, tỉnh Vĩnh Long bán xe thì T đồng ý mua với giá 1.200.000 đồng và đưa trước cho L 400.000 đồng, số tiền còn lại T hẹn trả sau. L cầm tiền cho T 200.000 đồng, còn 200.000 đồng thì tiêu xài cá nhân.
Sau khi bị mất xe anh H trình báo sự việc với Công an xã Trường An, Công an xã chuyển hồ sơ cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Long xử lý. Qua xác minh Cơ quan cảnh sát điều tra mời L làm việc thì L thừa nhận lấy trộm xe của anh H.
Kết luận định giá tài sản số 142 ngày 11/12/2018 Hội đồng định giá kết luận: Xe máy hiệu Fanlim, màu đỏ biển số 51Y7-4793 trị giá 3.150.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Bản cáo trạng số 43/CT-VKSND.TPVL ngày 07/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố bị cáo Nguyễn Tấn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia xét xử đã nêu quan điểm luận tội: Khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định tại khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn L từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Văn H đã nhận lại xe mô tô 51Y7-4793 không có yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết. Về trách nhiệm hình sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Tấn L đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình đúng như cáo trạng đã nêu và đồng ý với tội danh mà bị cáo bị truy tố. Bị cáo không tham gia tranh luận, trong phần nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo L khai nhận: Bị cáo là người nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng bị cáo đã đến cơ sở sản xuất bún Ba Khánh là nơi bị cáo làm trước đây để trộm cắp tài sản. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 24/10/2018 bị cáo lợi dụng đêm khuya vắng người nên lẻn vào lấy trộm xe mô tô 51Y7-4793 của anh Phan Văn H mang về nhà cất giấu, sau đó đem đi bán lấy tiền tiêu xài.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" tội danh và hình phạt được được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự; tài sản bị chiếm đoạt có giá trị 3.150.000 đồng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là chính xác.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tội phạm ít nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản người khác. Bị cáo có đầy đủ năng lực để nhận thức được tài sản thuộc quyền sử hữu của người khác phải được mọi người tôn trọng, được pháp luật bảo vệ, nếu ai xâm phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật. Bị cáo là thanh niên, có sức khỏe nhưng chỉ vì nghiện ma túy, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động cực nhọc nên đã thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý gây mất trật tự xã hội và tâm lý lo lắng trong nhân dân. Vì vậy, với hành vi phạm tội này, bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm với một hình phạt tương ứng trong khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo được tính răn đe, giúp bị cáo cai nghiện ma túy, cải tạo bản thân trở thành một người công dân có ích và cũng góp phần phòng ngừa chung cho xã hội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây cũng là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Văn H đã nhận lại xe mô tô 51Y7-4793 không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn L 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
II. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án và danh mục ban hành kèm theo;
Buộc bị cáo Nguyễn Tấn L nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo và trại giam; - Tòa án tỉnh VL; - VKSND tỉnh VL; - Công an TPVL; - VKSND TPVL; - Chi cục THADS TPVL; - Lưu hồ sơ. | Phạm Hải Châu |