vanban.org

Bản án 39/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 25/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Đình T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt Trần Đình T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Đình T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM XUYÊN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2019/HSST
Ngày: 25/9/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Minh Thọ

Bà Nguyễn Thị Vân

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Hồng Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.

Vào lúc 15 giờ 30 ngày 25 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2019/HSST ngày 07/8/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2019/QĐXXST-HS ngày 22/8/2019 đối với:

* Bị cáo Trần Đình T, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1989, tại xã Cẩm T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn An V, xã Cẩm T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Đình S, sinh năm 1935, con bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1945, hiện trú tại thôn: An V, xã Cẩm T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Vợ: Phạm Thị T, sinh năm 1988, hiện trú tại: Thôn An V, xã Cẩm T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Con: 02 đứa, đứa lớn sinh năm 2010, đứa nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/11/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách còn lại sau khi trừ thời gian đã bị tạm giam là 17 tháng 24 ngày về tội “Trộm cắp tài sản’’, tại Bản án số 27/2008/HSST. Chấp hành xong thời gian thử thách ngày 15/5/2010, đương nhiên được xóa án tích; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16/4/2019 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Anh Trần Đình T, sinh ngày 10/3/1977; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt).

Trú tại: Thôn An V, xã Cẩm T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Đình Đ, sinh năm 1975; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại: Thôn Đ, xã Cẩm T, huyÖn CÈm X, tØnh Hµ TÜnh (Có mặt).

* Người làm chứng:

- Anh Trần Đình P, sinh năm 1987 (Vắng mặt).

- Ông Trần Đình S, sinh năm 1935 (Có mặt).

- Chị Phạm Thị T, sinh năm 1988 (Có mặt).

Đều trú tại: Thôn An V, xã Cẩm T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 14/02/2019, Trần Đình T bế con gái sang nhà anh T. Lúc này, tại nhà anh T có vợ chồng anh Trần Đình T, chị Nguyễn Thị C, anh Trần Đình Tr và anh Trần Đình Đ (là anh ruột của T) đang ngồi tại phòng khách uống bia và hát Karaoke. Ngồi chơi khoảng 05 phút thì anh Tr ra về, T ngồi thêm 10 phút nữa thì bế con gái về nhà mình. Khi T về nhà thì bà Nguyễn Thị S (mẹ đẻ T) đi sang nhà anh T chơi và uống bia, một lúc sau, anh Đ không cho bà Song uống bia nữa và đưa bà về nhà, tại đây giữa anh Đ và bà S xảy ra cãi nhau dẫn đến bà S khóc. Nghe tiếng khóc của bà S, anh T, anh T chạy sang xem có chuyện gì không, anh T đi vào phòng ngủ thức T dậy. Khoảng 15 giờ cùng ngày, T tỉnh dậy thấy mẹ khóc, nghĩ là anh Đ uống say rồi về nhà gây sự nên T chạy xuống bếp lấy 01 con dao rồi chạy vòng ra trước sân nhà to tiếng chửi “thằng mô đập bà Song đó bây”, anh Đ đáp “tau”. Nghe vậy, T bảo anh T, anh T đi về rồi lấy đá ở sân ném về phía anh Đ, anh Đ chạy vòng theo lối phòng khách xuống nhà bếp lấy một con dao rồi chạy ra ngõ. T cũng chạy xuống khu vực chuồng gà nhà mình lấy thêm một đoạn sắt đuổi đánh anh Đ. Khi chạy đến ngõ nhà anh T, T dùng thanh sắt đánh anh Đ nhưng không trúng và bị anh Đ đạp ngã xuống đất, hai người xông vào giằng co, vật lộn với nhau. Quá trình anh Đ và T đánh nhau được anh T và anh T can ngăn nên T cầm dao chạy về nhà, còn anh Đ đi vào nhà anh T. Một lúc sau, anh T đứng bên nhà mình chửi sang nhà T “bay là đồ ổ chó, trừ thằng Đ ra”, T cũng đứng bên nhà mình chửi lại “đồ con H C” (ý xúc phạm đến bố đẻ anh T, đã mất), anh T bức xúc đi sang nhà T. Thấy vậy, T đi vào cầu thang nhà mình lấy thêm 01 con dao rồi quay ra đặt cả hai con dao xuống thềm trước nhà mình. Khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, anh T đi đến cách T khoảng 1,5m, anh T nói với T “mi chém được thì chém đi”. T đáp lại “tui nỏ chém bác, bác chém được thì chém đi, tui nằm đây cho bác chém”, T vừa nói vừa đưa con dao (lấy ở cầu thang) cho anh T. Anh T cầm lấy con dao trên từ tay T, lúc này T nằm nghiêng người xuống thềm nhà tỏ thái độ thách thức. Anh T dùng tay phải cầm con dao tỳ lên người T, rồi dùng tay trái đánh vào mặt T hai đến ba cái. Thấy vậy, chị Phạm Thị T (vợ T) chạy vào đẩy anh T ra, T vùng dậy lấy con dao còn lại ở thềm nhà nhảy xuống sân chém anh T, anh T lùi lại đồng thời giơ tay phải đang cầm dao lên chống đỡ thì bị T chém một nhát trúng vào cổ tay cầm dao. Lúc đó, anh Trần Đình P chạy sang, cầm lấy chiếc xe đạp để ở góc sân đẩy ngang giữa T và anh T để can ngăn nên hai bên dừng lại. Thấy tay anh T bị chảy máu nên anh P đưa về nhà của anh T, còn T vứt dao ở vườn và đi vào nhà ngủ. Anh T phải đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 14/02/2019 đến ngày 18/02/2019. Trần Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp hung khí gây án.

Bản kết luận giám định Pháp y số: 38/TgT ngày 26/3/2019 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa - Sở Y tế Hà Tĩnh kết luận: anh Trần Đình T có các vết thương: 1/3 dưới mặt trước trong cẳng tay phải sẹo vết thương và sẹo mổ liền nhau hình chữ (Y), kích thước 5x0,2cm và 2x0,2cm; Đứt gân gấp cổ tay trụ và gân gấp ngón IV, V bàn tay phải đã phẫu thuật nối gân, ảnh hưởng đến động tác gấp duỗi cổ tay, ngón tay phải mức độ ít; Đứt thần kinh trụ phải đã phẫu thuật nối thần kinh; Đứt động mạch trụ phải đã phẫu thuật nối động mạch. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 25%.

Vật chứng thu giữ: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã thu giữ:

- 01 con dao dài 33,5cm, cán dao dài 14cm được làm bằng ống kim loại có đường kính 2,6cm màu bạc, lưỡi dao bằng kim loại dẹt, mỏng dạng hình chữ nhật dài 19,5cm, bản rộng 5cm, phần trên đầu lưỡi dao có một lỗ kim loại đường kính 0,8cm (hung khí bị cáo sử dụng gây thương tích cho anh Trần Đình T).

- 01 con dao dài 30cm, cán dao làm bằng gỗ dài 10cm, thân hình bầu dục, bản dẹt, nơi rộng nhất của thân dao 8cm (hung khí mà bị cáo lấy từ nhà mình, sau đó đưa cho anh Trần Đình T cầm trước khi xảy ra vụ việc).

- 01 đoạn sắt vằn màu đen, dài 104cm, trên bề mặt có dòng chữ VAS.CB3-16. (hung khí bị cáo sử dụng khi đánh nhau với anh Trần Đình Đ).

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Trần Đình T đã bồi thường chi phí điều trị, thuốc men cho anh Trần Đình T tổng số tiền 12.000.000 đồng. Nay bị hại không yêu cầu gì thêm.

Với hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số: 39/CT-VKSCX ngày 06/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên đã truy tố Trần Đình T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, e, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Đình T mức án từ 12 đến 15 tháng tù; xử lý vật chứng và buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, Sơ đồ hiện trường, Kết luận giám đinh pháp y, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 14/02/2019, tại nhà của Trần Đình T ở thôn An Việt, xã Cẩm T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, giữa Trần Đình T và anh Trần Đình T xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại với nhau. Do bức xúc khi bị anh T dùng tay đánh vào mặt 2 đến 3 cái, nên Trần Đình T đã dung dao chém một nhát vào cổ tay phải của anh Trần Đình T gây tổn hại 25% sức khỏe.

Hành vi trên của Trần Đình T đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” tội danh và hình phạt được quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, việc xét xử bị cáo về tội danh, điều luật như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự quy định: Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm”, thì bị phạt tù 02 năm đến 06 năm.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém một nhát vào cổ tay của anh Trần Đình T gây tổn hại 25% sức khỏe. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong điều kiện đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và chỉ một mình bị cáo phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Trần Đình T đều thành khẩn khai báo; sau khi xảy ra sự việc, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại đầy đủ theo yêu cầu của bị hại, nay bị hại không yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động mạnh về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra (bị hại đã có hành vi dùng tay phải cầm con dao tỳ lên người bị cáo, rồi dùng tay trái đánh vào mặt bị cáo hai đến ba cái ngay trước khi bị cáo phạm tội); ngoài ra, bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, mẹ đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ già yếu, các con còn nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, e, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt và cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên tại phiên tòa.

5 Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của bị hại số tiền 12.000.000đồng. Nay, bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao bị cáo sử dụng để phạm tội, đây là công cụ phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 con dao T lấy từ nhà mình, sau đó đưa cho anh Trần Đình T cầm trước khi xảy ra vụ án, 01 đoạn sắt là hung khí T sử dụng khi đánh nhau với anh Trần Đình Đ, đây là các vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy.

Đối với hành vi của Trần Đình T (trước khi gây thương tích cho anh Trần Đình T) dùng đá ném vào người anh Trần Đình Đ nhưng không trúng, sau đó tiếp tục cầm dao và gậy sắt đuổi đánh anh Đ, dẫn đến việc hai người vật lộn với nhau trước cổng nhà anh T. Trong sự việc này anh Đ không bị thương tích và cũng không yêu cầu gì nên không có căn cứ để xử lý.

[8 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

9 Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Đình T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, e, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Trần Đình T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 con dao dài 33,5cm, cán dao dài 14cm được làm bằng ống kim loại có đường kính 2,6cm màu bạc, lưỡi dao bằng kim loại dẹt, mỏng dạng hình chữ nhật dài 19,5cm, bản rộng 5cm, phần trên đầu lưỡi dao có một lỗ kim loại đường kính 0,8cm.

- 01 con dao dài 30cm, cán dao làm bằng gỗ dài 10cm, thân hình bầu dục, bản dẹt, nơi rộng nhất của thân dao 8cm.

- 01 đoạn sắt vằn màu đen, dài khoảng 104cm, trên bề mặt có dòng chữ VAS CB3-16.

(Tình trạng, đặc điểm các vật chứng được ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/8/2019 giữa ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên và Cục thi hành án dân sự tỉnh huyện Cẩm Xuyên)

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Trần Đình T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ