vanban.org

Bản án 39/2019/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 04/03/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tr n L, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2018/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Áp dụng: Điểm d và đ khoản 2 Điều 168; điểm b và s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Trần L – 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Th i điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/3/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần L phạm tội Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tr n L, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2018/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Kiên Giang.
  • Căn cứ chính? Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2019/HS-PT
Ngày: 04 - 3 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Như Tám

Ông Cao Qu c Chi n

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Quý – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ng c Th y – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 10/2019/HS- PT ngày 03 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Tr n L i do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2018/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Kiên Giang.

- Bị cáo có kháng cáo: Bị cáo Trần L (tên gọi khác Đ), sinh năm 1996. Nơi ĐKHKTT: Ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Tr n H, sinh năm 1973 và bà Thị N, sinh năm 1972; v tên Thị K, sinh năm 1995 và 02 ngư i con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ vào ngày 18/3/2018 và tạm giam ngày 21/3/2018.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Khoảng 18 gi ngày 31/01/2018, Danh M, Danh S1 và Tr n L cùng ngồi uống cà phê ở khu vực c u Rạch Tìa, xã Đ, huyện G. Tại đây Danh M rủ L và S1 đến nhà bà Thị B để lấy tài sản, L gọi điện thoại rủ Danh Đ (Điền) cùng đi, Đ đồng ý nên điều khiển xe gắn máy đến quán cà phê gặp H và rủ H đi cùng. Sau khi bàn bạc, tất cả đồng ý cùng đi đến nhà bà Thị B để lấy tài sản, M kêu L về nhà lấy vỏ máy do đư ng bộ khó đi. Tất cả đến nhà L lấy vỏ máy, lúc này L lấy một cây dao tự chế, một cây dao thái lan cán bằng gỗ và một cây nhựa dẻo màu trắng, M kêu Đ đi mua khẩu trang y tế. Sau khi chuẩn bị xong tất cả xuống vỏ máy do L điều khiển chạy đến nhà bà Thị B trú tại ấp T, xã Đ, huyện G đậu cách nhà bà B khoảng 100m. Sau khi đậu vỏ máy xong cả nhóm 05 ngư i đi lên b đi bộ đến nhà bà Thị B, M c m dao tự chế đi vào trước, Đ c m cây nhựa màu trắng dẻo đi phía sau, H c m cây dao Thái Lan nhưng bị làm rơi dưới vỏ nên khi đi cũng nhặt một đoạn tre dài khoảng 70 – 80cm c m trên tay đi vào nhà, lúc này bà B đang ở ngoài hàng ba nhà, M hỏi bà B “Thằng Linh có nhà không?”, bà B trả l i “không, có chuyện gì nói với tôi đi”, M nói tiếp, kêu ông S2 ra đây! bà B nói “ổng say rồi kiếm ổng có gì không”, M, Đ mới nhào đến dùng tay đẩy bà B vào trong nhà nhưng bà B không chịu đi, H mới dùng cây đánh vào vai bà B. Ông Danh S2 chồng bà B thức dậy chạy ra hỏi có chuyện gì thì Danh S1 c m khúc tre chạy đến đánh vào ngư i ông S2, M kêu dí đừng cho nó chạy, S1, L rư t theo làm cho ông S2 và con trai Danh T bỏ chạy. M, Đ tiếp tục đẩy bà B vào trong nhà đến chỗ tủ áo bằng gỗ kề dao vào ngư i bà B, Đ thì c m khúc nhựa dẻo quơ qua, quơ lại đe dọa bà B yêu c u lấy tiền vàng mang ra và cả chìa khóa két sắt, bà B bảo không có tiền thì M đe dọa sẽ dùng dao chém đứt cánh tay của bà B, bị đe dọa bà B mới mở tủ áo lục lấy chìa khóa két sắt thì rớt ra cọc tiền 10.000.000 đồng, M liền giật lấy tiền đưa cho Đ c m, khi bà B mở két sắt ra thì M giật lấy chiếc túi bọc nylon màu đỏ đưa cho Đ c m, bà B yêu c u đừng lấy giấy t do làm lại khó lắm, Đ mới đổ giấy t ra lấy chiếc bọc bỏ tiền vào, M tiếp tục hỏi vàng đâu thì bà B mới lấy chiếc hộp giấy đưa cho M bên trong có 15 chỉ vàng 18K; 14 chỉ vàng 24K đổ vào túi nylon do Đ c m, M tiếp tục lấy trong két sắt 10.000.000 đồng cất giữ riêng trong ngư i. Sau khi lấy xong tài sản, M ôm bà B lại, Đ kéo tay ra phía sau cho H lấy dây điện có sẵn trói tay lại, sau đó M kêu tất cả rút, ra khỏi nhà Đ mới khóa cửa lại và vứt bỏ chìa khóa ra sân. Danh M, Danh S1, Danh Đ, Tr n L và Danh H mới xuống vỏ máy chạy về nhà L, tại đây cả 05 lấy cọc tiền 10.000.000 đồng ra chia đều, vàng thì giao cho Đ cất giữ.

Đến sáng ngày 01/02/2018, Đ và M đi đến các tiệm vàng ở huyện Giồng Riềng, Châu Thành và Rạch Sỏi để bán số vàng vừa cướp đư c mang tiền về tiếp tục chia đều cho đồng bọn. Mỗi ngư i nhận đư c số tiền khoảng 19.000.000 đồng, ngoài ra L còn cất giữ 01 đôi bông tay và 01 mặt dây chuyền hình ông địa làm bằng đá cẩm thạch, Danh M còn chiếm đoạt cá nhân 01 cọc tiền 10.000.000 đồng không chia cho ai. Danh N là bạn của Danh Đ và Tr n L cũng đư c L và Đ cho 1.000.000 đồng. Số tiền cướp có đư c các bị cáo đã sử dụng vào việc chi tiêu cá nhân và mua sắm tài sản đã đư c cơ quan điều tra thu giữ.

Vật chứng trong vụ án gồm: 01 máy xăng có bình xăng màu trắng, mặt nạ màu đỏ (không rõ chủng loại), số máy TG168F-1(1/2R) 1404036103 là máy của bị cáo Tr n L; 01 vỏ lãi Composit màu xanh – trắng, dài 06m nhãn hiệu Tài Lộc 2 – số No7344 ông Tr n H là chủ sở hữu; 01 xe gắn máy Wave Trung Quốc nhãn hiệu FERVOR, màu đỏ, biển kiểm soát 53RB-2037 và giấy đăng ký xe; 02 nhẫn tròn bằng kim loại màu vàng; tiền mặt 600.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime; 01 cây tre dài 1.1m, có đư ng kính 5cm; 01 chìa khóa bằng kim loại, 01 đ u đư c bọc nhựa màu đen, trên chìa khóa có buộc s i dây vải màu xanh dài 35cm; 01 hộp giấy có kích thước 15cm x 7cm x 1,5cm; 01 s i dây điện màu trắng dính trong ổ ghim dài 6,75m; 02 s i dây (loại dây bố), s i thứ nhất dài 3,36m, có đư ng kính 0,6cm và s i dây thứ hai dài 2,68m có đư ng kính 0,6cm; 01 gọng kính bằng nhựa màu đen bị gãy.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 14/2018/KL-HĐĐG ngày 25/3/2018 của hội đồng định giá huyện G kết luận:

- 01 thẻ vàng miếng ký hiệu Rồng vàng 999, có trọng lư ng 01 chỉ, giá trị tại th i điểm 3.706.000 đồng;

- 01 đôi hoa tai kiểu nút vặn, mặt trước hình tròn, loại vàng 24k, có trọng lư ng 01 chỉ, giá trị tại th i điểm 3.706.000 đồng;

- 01 lắc khoen lật có trọng lư ng 05 chỉ, loại vàng 24k, giá vàng 3.706.000 đồng/chỉ, giá trị tại th i điểm 18.530.000 đồng;

- 01 s i dây chuyền kiểu khoen lật có trọng lư ng 05 chỉ vàng 24k, mặt dây chuyền kiểu trái tim trọng lư ng 01 chỉ vàng 24k, giá trị tại th i điểm 22.236.000 đồng;

- 01 nhẫn tròn có trọng lư ng 02 chỉ, loại vàng 24k, giá trị tại th i điểm 7.412.000 đồng;

- 01 s i dây chuyền vàng kiểu dây xích, có trọng lư ng 05 chỉ, loại vàng 18k, mặt dây chuyền hình ông địa, giá vàng 2.795.000 đồng/chỉ, giá trị tại th i điểm 13.975.000 đồng;

- 01 s i dây chuyền kiểu hình dẹp dính liền, có trọng lư ng 04 chỉ, loại vàng 18k, mặt dây chuyền cẩn đá màu xanh, viền vàng xung quanh, giá trị tại th i điểm 11.180.000 đồng;

- 01 tắm lắc vàng 18k, trọng lư ng 03 chỉ, giá trị tại th i điểm 8.385.000 đồng;

- 01 nhẫn vuông cẩn hạt màu tím, loại vàng 18k, trọng lư ng 02 chỉ, giá trị tại th i điểm 5.590.000 đồng;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, không rõ model và th i gian mua, giá trị mua nên không xác định giá trị còn lại của tài sản;

Tổng cộng: 94.720.000 đồng.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 05/2018/KL-HĐĐG ngày 25/01/2018 của hội đồng định giá huyện G kết luận:

01 xe mô tô nhãn hiệu Honda (do Nhật Bản sản xuất), loại xe FUTURE, dung tích xi lanh 109cm3, màu ghi, số khung JA02081Y240057, số máy JA02E0240085, biển số 68S3-3004, giá trị còn lại tại th i điểm 2.250.000 đồng.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 30/2018/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện G đã quyết định:

- Tuyên bố: Bị cáo Trần L phạm tội “Cướp tài sản”.

- Áp dụng: Điểm d và đ khoản 2 Điều 168, điểm b và s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần L – 07 (bảy) năm t , th i hạn chấp hành hình phạt tù đư c tính từ ngày 18/3/2018.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên bị cáo Danh Đ 08 năm tù, bị cáo Danh H 07 năm 09 tháng tù; tuyên về biện pháp tư pháp; trách nhiệm dân sự; án phí; lãi suất trong thi hành án và báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Ngày 30/11/2018, bị cáo Tr n L kháng cáo với nội dung: Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm tù là nặng với bị cáo, bị cáo xin Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận bản án của Tòa án nhân dân huyện G xét xử bị cáo về tội “Cư p tài sản” theo điểm d và đ khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là đúng tội của bị cáo. Bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo ở điểm d và đ khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật. Cấp sơ thẩm đã có xem xét về nhân thân, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án 07 năm tù là đ u khung hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận yêu c u kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính h p pháp của đơn kháng cáo:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo Tr n L về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và th i hạn kháng cáo đã đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

Về quyết định của bản án sơ thẩm: Khoảng 18 gi ngày 31/01/2018, Danh M rủ Danh S1 và Tr n L đến nhà bà Thị B ở ấp T, xã Đ để lấy tài sản, Tr n L đồng ý rủ thêm Danh Đ, Danh H cùng đi. Sau khi về nhà Tr n L lấy vỏ máy và chuẩn bị hung khí gồm dao tự chế, dao Thái Lan... thì cả nhóm xuống nhà bà Thị B. Khi đến nhà bà B, M c m dao tự chế xông vào nhà khống chế bà B cùng Đ và Danh H buộc bà Thị B giao tài sản gồm tiền, vàng… Tổng giá trị tài sản cướp đư c là 94.720.000 đồng. Trong lúc này Danh S1 và Tr n L dùng cây đuổi đánh chồng và con bà B uy hiếp tinh th n để cướp tài sản. Sau khi lấy đư c tài sản, các bị cáo cùng bán chia nhau tiêu xài hết. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các điểm d và đ khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 xét xử bị cáo về tội “Cư p tài sản” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về yêu c u kháng cáo của bị cáo: Các bị cáo là những ngư i còn trẻ, đang trong độ tuổi lao động, đúng ra các bị cáo phải biết cố gắng lao động thật tốt để kiếm đư c những đồng tiền chân chính, lương thiện, sau này có điều kiện tự chăm lo cho bản thân, tạo tương lai tốt đẹp, giúp ích cho gia đình và cống hiến cho xã hội mới phải. Ngư c lại, các bị cáo là những đối tư ng lư i biếng lao động, bản tính tham lam, thích hưởng thụ và muốn nhanh chóng có thật nhiều tiền để phục vụ cho nhu c u chi xài bản thân, nên các bị cáo nghĩ ra cách kiếm tiền bằng hành vi cướp tài sản của ngư i khác, đem bán lấy tiền cùng chia nhau tiêu xài cho thỏa thích, không nghĩ đến hậu quả mình đã gây nên.

Các bị cáo trước khi thực hiện hành vi phạm tội đã chuẩn bị sẵn công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện sự xem thư ng pháp luật, gây căm phẫn bất bình trong dư luận qu n chúng nhân dân, vừa trực tiếp xâm hại đến tài sản của ngư i khác một cách trái pháp luật, vừa gây mất trật tự trị an ở địa phương; mặt khác gây tâm lý hoang mang, lo s cho ngư i dân vùng quê vốn yên bình.

Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, mang tính táo bạo và liều lĩnh. Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét đ y đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo mức án đ u khung hình phạt như trên là đã có chiếu cố giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết nào mới để xem xét nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Về quan điểm của Kiểm sát viên: Do bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào khác và mức án mà cấp sơ thẩm quyết định áp dụng cho bị cáo là tương xứng với tính chất và mức độ hậu quả bị cáo gây ra, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận yêu c u kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử nhận thấy, quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, nghĩ nên c n chấp nhận quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thư ng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Do bị cáo kháng cáo không đư c chấp nhận nên buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tr n L, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2018/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Kiên Giang.

2. Áp dụng: Điểm d và đ khoản 2 Điều 168; điểm b và s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Trần L – 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Th i điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/3/2018.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thư ng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án số 30/2018/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Kiên Giang không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ