vanban.org

Bản án 39/2019/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 24/01/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Đức Ng.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Ng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Đức Ng không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Ng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Đức Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI HÀ NỘI
_________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39 /2019/HSPT
Ngày 24/01/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Hồng Sơn;

Các Thẩm phán:

Ông Hoàng Văn Hạnh;

Ông Hoàng Mạnh Hùng.

Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Chuyền - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Biểu - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 24 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 963/2018/TLPT ngày 23 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Đức Ng và đồng phạm phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2018/HSST ngày 12 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

* Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Đức Ng, sinh năm 1970; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn HT, xã NQ, huyện TY, tỉnh Yên Bái; nơi ở: Nhà số 188, đường HQV, thành phố LC, tỉnh Lào Cai; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; con ông Nguyễn Khắc T và bà Hà Thị L; bị cáo có vợ và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 71/HSST ngày 19/6/1999, Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt Nguyễn Đức Ng 13 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đã thi hành xong ngày 11/03/2009.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/5/2018, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ (có mặt).

Ng1 bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Văn C - Công ty luật TNHH một thành viên HQ thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Phú Thọ (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị cáo khác không kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 08/5/2018, Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Phú Thọ phối hợp với Công an xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tiến hành tuần tra kiểm soát tại khu vực trạm soát vé nút giao IC8 đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai thuộc địa phận xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh đã phát hiện bắt quả tang Nguyễn Đức Ng đang có hành vi tàng trữ trong túi quần bên phải 01 vỏ bao thuốc lá 555 màu xanh, bên ngoài được cuốn băng dính màu trắng, bên trong có chứa 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm bịt kín, bên trong túi nilon có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm bịt kín, bên trong có chứa 19 viên nén màu đỏ trên bề mặt của các viên nén này đều in chìm chữ “WY”. Ng khai nhận là ma túy mang đi bán cho đối tượng có tên là G nhà ở khu vực Bãi Bằng, huyện Phù Ninh. Tổ công tác lập biên bản bắt Ng1 phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, còn thu giữ của Nguyễn Đức Ng một số tang vật khác và 1.000.000 đ.

Tại Kết luận giám định số 522 ngày 11/5/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

- Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng (bên trong phong bì niêm phong ký hiệu số 01) gửi đến giám định là ma túy; có khối lượng là 45,307 gam, loại: Methamphetamine.

- Mẫu 19 viên nén hình trụ tròn màu đỏ, trên một bề mặt của viên nén này đều có in chìm chữ “WY” (bên trong phong bì niêm phong ký hiệu số 02) gửi đến giám định là ma túy; có khối lượng là 1,981 gam; loại: Methamphetamine.

* Nguyễn Đức Ng khai: Do quen biết và làm thuê cho Đỗ Quốc Tr (sinh ngày 03/10/1965) tại nhà của Tr ở số 188, đường HQV, phường BL, thành phố LC, tỉnh Lào Cai, nên Ng và Tr đều biết nhau có sử dụng ma túy. Khoảng đầu tháng 4/2018, Tr bàn với Ng khi Tr có khách giao dịch mua bán ma túy thì Tr sẽ đưa ma túy cho Ng để Ng trực tiếp đi giao cho khách và nhận tiền, mỗi tháng Tr sẽ trả tiền công bán ma túy cho Ng 10.000.000 đ, Ng đồng ý. Sau đó trong khoảng thời gian từ tháng 4/2018 đến ngày 08/5/2018, Tr đã nhiều lần đưa ma túy cho Ng đem bán cho nhiều Ng1 nhưng hiện nay Ng không nhớ được. Ngày 08/5/2018, Tr đưa cho Ng một gói ma túy để đem bán cho một Ng1 có tên G ở Bãi Bằng, Phù Ninh, khi chưa kịp bán thì bị cơ quan Công an bắt quả tang như đã nêu trên.

Ngày 09/5/2018, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Phú Thọ khám xét nơi ở của Đỗ Quốc Tr tại số nhà 188, đường HQV, phường BL, thành phố LC, tỉnh Lào Cai đã thu giữ 60 túi nilon màu trắng có khuy bấm bịt kín bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 cân điện tử vỏ nhựa màu đen đã cũ; 90.000.000 đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng nhạt kèm 01 thẻ sim số thuê bao 01627152486; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 301 màu xanh đen kèm 01 thẻ sim số thuê bao 0967.414.171. Tr khai nhận 60 túi nilon màu trắng là ma túy mục đích để sử dụng và bán.

Tại Kết luận giám định số 522 ngày 11/5/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 18,708 gam, loại: Methamphetamine.

* Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Quốc Tr khai nhận đã đưa ma túy cho Nguyễn Đức Ng để bán cho G và khai nhận về nguồn gốc số ma túy như sau:

Năm 2017, Tr mua của Nguyễn Tùng D (sinh năm 1973, cư trú tại thôn BT 2, xã BN, huyện BH, tỉnh Lào Cai) 02 lần được tổng số 90 gam ma túy đá với giá 400.000 đ/gam (tổng số tiền 36.000.000 đ);

Năm 2018, Tr mua của Hoàng Liên S (sinh năm 1973, nhà ở tổ 21, phường BC, thành phố LC, tỉnh Lào Cai) 05 lần, tổng số 104 gam ma túy đá và 200 viên hồng phiến: Trong đó mua từ lần 1 đến lần 3 tổng cộng 14 gam ma túy đá với giá 500.000 đ/01 gam (tổng số tiền 7.000.000 đ); lần 4 và lần 5 tổng cộng 90 gam ma túy đá với giá 400.000 đ/01 gam (tổng số tiền 36.000.000 đ) và 200 viên hồng phiến với giá 50.000 đ/01 viên (tổng số tiền là 10.000.000 đ).

Sau khi mua được số ma túy nêu trên, Tr đã đem về chia thành từng gói nhỏ để sử dụng và bán để kiếm lời.

Vào khoảng thời gian đầu tháng 4/2018, Tr có thuê Nguyễn Đức Ng bán ma túy cho Tr, thỏa thuận mỗi tháng Tr sẽ trả lương cho Ng 10.000.000 đ và nuôi ăn ở. Bản thân Tr đã trực tiếp bán ma túy và nhiều lần giao ma túy cho Ng đem bán cho nhiều Ng1 trên địa bàn thành phố Lào Cai nhưng Tr và Ng không nhớ được tên tuổi, địa chỉ của những Ng1 này. Ngoài ra, vào ngày 06/05/2018, Tr có gặp và quen một Ng1 đàn ông giới thiệu tên là G, khoảng hơn 40 tuổi nói là nhà ở khu vực Bãi Bằng, huyện Phù Ninh, Phú Thọ. Qua nói chuyện, Tr nói cho G biết mình có ma túy bán và cho nhau số điện thoại để liên lạc. Đến khoảng 13 giờ ngày 08/05/2018, G dùng số điện thoại 0942.555.228 gọi cho Tr hỏi mua 50 gam ma túy đá và 20 viên hồng phiến. Tr đồng ý bán và thỏa thuận 50 gam ma túy đá giá 25.000.000 đ, 20 viên hồng phiến giá 2.000.000 đ (tổng cộng là 27.000.000 đ). Tr đồng ý và nói G chuyển tiền qua xe khách cho Tr rồi Tr sẽ cho Ng1 giao ma túy cho G. Đến 19 giờ cùng ngày, G gọi điện thoại cho Tr báo đã gửi 12.000.000 đ cho Tr, khi nào nhận ma túy thì sẽ trả nốt. Tr ra đón xe khách và nhận được 12.000.000 đ tiền G gửi. Sau đó, Tr nói cho Ng biết việc G đặt mua ma túy và bảo Ng đem ma túy cho G, Ng đồng ý. Tr lấy ra 45,307 gam ma túy đá và 19 viên hồng phiến để vào trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555 rồi quấn băng dính màu trắng bên ngoài đưa cho Ng; đồng thời, cho Ng số điện thoại của G có số 0942.555.228 rồi Tr chở Ng ra bến xe ô tô khách thành phố Lào Cai để Ng đi xuống Phú Thọ. Ng đón xe ô tô khách đi từ thành phố Lào Cai về đến nút giao cao tốc IC8 thuộc địa phận huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang như nêu trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2018/HSST ngày 12/10/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức Ng, Đỗ Quốc Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Đỗ Quốc Tr 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2018.

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Đức Ng 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2018.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 15/10/2018, bị cáo Nguyễn Đức Ng kháng cáo xin giảm hình phạt.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Nguyễn Đức Ng khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo khai biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo bị kết tội là đúng, không oan. Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Bị thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội do hám lời nhưng chưa được hưởng lợi. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo xuất trình chứng cứ thể hiện việc bị cáo có bố mẹ đẻ, ông nội, bà nội được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến và ông nội của bị cáo là Liệt sĩ.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo chỉ là người làm thuê cho bị cáo Tr nhưng mức hình phạt của bị cáo Ng lại cao hơn nhiều so với bị cáo Tr là chưa công bằng, số ma túy đã bị thu giữ kịp thời, chưa bị phát tán ra ngoài xã hội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình và khai ra bị cáo Tr. Bị cáo có ông nội là Liệt sĩ, bố, mẹ đẻ cũng như bà nội của bị cáo là những người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân, Huy chương. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa sau khi tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, đánh giá các tình tiết có trong hồ sơ vụ án cũng như hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá nội dung xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức Ng, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và của Luật sư bào chữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai nhận tội của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo khác trong cùng vụ án, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định, các vật chứng được thu giữ và hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Như vậy, đã có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 23 giờ ngày 08/5/2018, tại trạm soát vé nút giao IC8 đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai, thuộc huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Phú Thọ phối hợp với Công an xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Đức Ng có hành vi tàng trữ 45,307 gam chất tinh thể rắn màu trắng và 19 viên hồng phiến, Nguyễn Đức Ng khai nhận là ma túy do Đỗ Quốc Tr thuê vận chuyển nhằm mục đích bán cho đối tượng tên là G nhà ở khu vực Bãi Bằng, huyện Phù Ninh.

Tại Kết luận giám định số 522 ngày 11/5/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

- Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng (bên trong phong bì niêm phong ký hiệu số 01) gửi đến giám định là ma túy; có khối lượng là 45,307 gam, loại: Methamphetamine.

- Mẫu 19 viên nén hình trụ tròn màu đỏ, trên một bề mặt của viên nén này đều có in chìm chữ “WY” (bên trong phong bì niêm phong ký hiệu số 02) gửi đến giám định là ma túy; có khối lượng là 1,981 gam; loại: Methamphetamine.

Tiến hành mở rộng điều tra vụ án, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Phú Thọ khám xét nơi ở của Đỗ Quốc Tr tại số nhà 188, đường Hoàng Quốc Việt, phường Bắc Lệnh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, thu giữ 60 túi nilon màu trắng có khuy bấm bịt kín bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, Tr khai là ma túy.

Tại Kết luận giám định số 522 ngày 11/5/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 18,708 gam, loại: Methamphetamine.

Đỗ Quốc Tr khai nhận nguồn gốc số ma túy là năm 2017, mua của Nguyễn Tùng D (sinh năm 1973, cư trú tại thôn BT 2, xã BN, huyện BH, tỉnh Lào Cai) 02 lần được tổng số 90 gam ma túy đá; năm 2018, mua của Hoàng Liên S (sinh năm 1973, nhà ở tổ 21, phường BC, thành phố LC, tỉnh Lào Cai) 05 lần, tổng số 104 gam ma túy đá và 200 viên hồng phiến. Sau khi mua được số ma túy nêu trên, Tr đã đem về chia thành từng gói nhỏ để sử dụng và bán để kiếm lời. Ngày 08/5/2018, theo chỉ đạo của Tr, Ng vận chuyển 47,288 gam Methamphetamine đang trên đường đi bán thì bị bắt quả tang như đã nêu trên. Đối với số ma túy này, Tr đã nhận của đối tượng tên G số tiền 12.000.000 đ.

Ngoài ra, tại cơ quan điều tra Ng, Tr còn khai nhận trước khi bị bắt giữ thì Tr và Ng đã cùng nhau thực hiện hành vi bán ma túy trái phép cho nhiều đối tượng tại địa bàn tỉnh Lào Cai và tỉnh Phú Thọ nhưng không nhớ cụ thể, do đó cơ quan điều tra chưa thể xác minh làm rõ nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố Ng, Tr căn cứ theo lượng ma túy bị thu giữ là phù hợp.

Do có hành vi như đã nêu trên và căn cứ khối lượng chất ma túy mà các bị cáo Đỗ Quốc Tr, Nguyễn Đức Ng thực hiện hành vi mua bán, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo không những đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an tại khu dân cư nên cần phải xét xử cũng như áp dụng mức hình phạt nhất định đối với bị cáo là hoàn toàn cần thiết.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thấy:

Quá trình xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã có sự phân tích, đánh giá về các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, tính chất nguy hiểm của hành vi, vai trò, nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đức Ng là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư bào chữa cho bị cáo và bị cáo xuất trình chứng cứ mới thể hiện việc bị cáo được sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng, bố, mẹ và bà nội của bị cáo được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến, ông nội của bị cáo là Liệt sĩ, đây là các tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ áp dụng để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, từ đó xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhưng trên cơ sở vẫn đảm bảo được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay.

Tổng hợp những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy do có tình tiết giảm nhẹ mới nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra, các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Đồng thời, do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, căn cứ Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Đức Ng. Sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với Nguyễn Đức Ng.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Ng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Đức Ng 13 (mười ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2018.

2. Bị cáo Nguyễn Đức Ng không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ