- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố:Nguyễn Văn D , phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA –––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2019/HS-ST Ngày 21/8/2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN – TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Hay;
Ông Vũ Đình Khanh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố sầm sơn tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2019/TLST- HS ngày 29 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
- Nguyễn Văn D, sinh năm 1981; giới tính: Nam; ĐKHKTT và nơi ở
hiện nay: Khu phố Tài Lộc, phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Thính và bà Nguyễn Thị H (đã chết); vợ Nguyễn Thị Minh (đã ly hôn) và có hai con lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2007; tiền án; tiền sự không.
Nhân thân: Ngày 11/7/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/3/2019 đến ngày 15/3/2019. Thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: 1. Chị Bạch Thị H – sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn Xuân C, xã Yên Lễ, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
2. Anh Vũ Như H– sinh năm 1998.
Địa chỉ: Khu phố Hồng Thắng, phường Quảng Cư, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
3. Chị Lương Thị H– sinh năm 1985 Địa chỉ: Số nhà 75, khu phố Thành Ngọc, phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. AnhCao Văn T - sinh năm 1983;
Địa chỉ: Khu phố Bình Sơn, phường Bắc Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa;
2. Bà Nguyễn Thị L – sinh năm 1956.
Địa chỉ: Khu phố Sơn Thủy, phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa;
3. Chị Nguyễn Thị T – sinh năm 2002.
Địa chỉ: Khu phố Cường Thịnh, phường Quảng Cư, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa;
4. ÔngTrịnh Bá K – sinh năm 1958.
Địa chỉ: Khu phố Trung Mới, phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa;
5. BàTrần Thị Q – sinh năm 1966.
Địa chỉ: Khu phố Bắc Nam, phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Các nhân chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 09 tháng 03 năm 2019 đến ngày 10 tháng 4 năm 2019, đã hai lần thực hiện các vụ trộm cắp tài sản tại Bệnh viện Điều dưỡng và Phục hồi chức năng Trung ương địa chỉ số 10-12 đường Nguyễn Du, phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh hóa, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 01h00, ngày 09/3/2019 sau khi ngồi uống nước tại quán chịTrần Thị Q trên đường Hồ Xuân Hương,Nguyễn Văn D đi bộ về nhà, khi đi đến khu vực Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng Trung ương, lúc này D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đã đi qua cổng phụ phía đường Lê Lợi vào bên trong bệnh viện và đi bằng cầu thang máy lên tầng 5, khi đi dọc hành lang thấy có một chiếc áo Blue màu trắng của chịLương Thị H đang phơi trên dây, D lấy chiếc áo khoác bên ngoài để mọi người nghĩ là bác sỹ, sau đó đi dọc hành lang quan sát các phòng bệnh nhân xem có tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi D đi đến phòng 525 quan sát thấy chị Bạch Thị H đang nằm ngủ, phía trên đầu giường có một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J8 màu đen bên ngoài có 01 ốp nhựa đang cắm sạc. D đi vào rút điện thoại ra khỏi sạc và bỏ vào trong túi quần rồi đi ra ngoài và mang điện thoại về nhà cất giấu.
Sau khi phát hiện chiếc điện thoại bị mất chị Bạch Thị H đã đến trình báo Công an, qua trích xuất hình ảnh từ Camera an ninh của Bệnh viện ghi lại, xác định Nguyễn Văn D là đối tượng nghi vấn trộm cắp tài sản. Đến 10 giờ 38 phút cùng ngày Công an phường Trường Sơn đến nhà D và phát hiện thu giữ chiếc điện thoại di động và D đã trộm cắp của chị H và 01 chiếc áo Blue màu trắng, có viền xanh ở cổ, phía ngực trái có hình logo của Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng Trung ương và lập biên bản yêu cầu D về Cơ quan Công an để làm việc. Sau đó Công an phường Trường Sơn đã chuyển toàn bộ hồ sơ, tang vật và đối tượng đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sầm Sơn để giải quyết theo thẩm quyền.
Theo báo cáo của chị Bạch Thị Hiền, chiếc điện thoại Sam Sung J8 màu đen của chị mua vào tháng 12 năm 2018 với giá 6.300.000đ; báo cáo của chịLương Thị Hchiếc áo Blue màu trắng của chị được Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng Trung ương cấp phát trị giá khoảng 300.000đ. Bản kết luận định giá tài sản số 13/HĐĐGTS, ngày 11/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản thuộc UBND thành phố Sầm Sơn kết luận: Chiếc điện thoại Sam Sung J8 màu đen trị giá 5.880.500đ (Năm triệu tám trăm tám mươi nghìn, năm trăm đồng); Chiếc áo Blue màu trắng trị giá 140.000đ. Tổng giá trị tài sản là 6.020.000đ (Sáu triệu không trăm hai mươi nghìn năm trăm đồng).
Ngày 16/3/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc áo Blue màu trắng cho chịLương Thị Hvà ngày 17/3/2019 đã trả lại chiếc điện thoại di động cho chị Bạch Thị Hiền. Chị Hồng và chị H không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 10/4/2019Nguyễn Văn D tiếp tục đi vào Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng Trung ương, D đi bộ lên tầng 3 và đi dọc hành lang xem có phòng nào có sơ hở thì vào trộm cắp tài sản. Khi D đi đến phòng 309 thấy có 4 đến 5 người đang ngủ, D đi lại giường chỗ anhVũ Như Hvà Nguyễn Thế Thuận thì thấy có 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7plus màu vàng hồng, có ốp nhựa viền màu đen đang cắm sạc để trên giường. Đương đi lại rút chiếc điện thoại ra khỏi sạc và bỏ vào trong túi quần rồi đi ra ngoài về nhà. Đến khoảng 22h giờ cùng ngày, D đi đến nhà và Nguyễn Thị L (là mẹ kế) chơi, thấy trong người có chiếc điện thoại và biết D lại tiếp tục trộm cắp tài sản, nên bà Liệu đã lấy chiếc điện thoại trên và đem đến Công an phường Trường Sơn giao nộp.
Sau khi phát hiện chiếc điện thoại bị mất, anhVũ Như Hđã đến trình báo Công an, qua trích xuất hình ảnh Camera an ninh tại tầng 3 của bệnh viện xác địnhNguyễn Văn D có mặt tại thời điểm bị mất tài sản, Cơ quan Công an đã triệu tậpNguyễn Văn D lên làm việc, D thừa nhận hành vi trộm cắp chiếc điện thoại trên. Sau đó vụ việc được chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sầm Sơn để điều tra theo thẩm quyền.
Theo báo cáo của anh Vũ Như H, chiếc điện thoại Ịphone 7plus màu vàng hồng anh mua vào đợt hè năm 2018 với giá 16.000.000đ. Bản kết luận định giá tài sản số 16/HĐĐGTS, ngày 12/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản thuộc UBND thành phố Sầm Sơn kết luận: Chiếc điện thoại Iphone 7plus màu vàng hồng, trị giá 7.794.000đ (Bảy triệu bảy trăm chín mươi tư nghìn đồng).
Ngày 06/6/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại cho anhVũ Như Hvà không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.
Quá trình điều tra,Nguyễn Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 38/CTr-VKS.SS ngày 29 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn, truy tốNguyễn Văn D , về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáoNguyễn Văn D và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 38 BLHS năm 2015, xử phạtNguyễn Văn D , mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho người bị hại, người bị hại không đề nghị gì thêm nên miễn xét.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiển tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm có điều kiện trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về phần thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiển sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đầy đủ, khách quan nghiêm túc các bước điều tra truy tố theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
. Về nội dung vụ án: Bị cáo lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản. Cụ thể: Ngày 09/3/2019 bị cáo có hành vi trộm cắp 01 chiếc áo blu trắng của chị Lương Thị H và 01 chiếc điện thoại của chị Bạch Thị H và ngày 10/4/2019 bị cáo trộm cắp 01 điện thoại của anh Vũ Như H, đều tại Bệnh viện phục hồi chức năng trung ương Sầm Sơn. Qua định giá tài sản chiếc điện thoại Sam Sung J8 màu đen của chị H trị giá 5.880.500đ; chiếc áo Blue màu trắng của chị Hồng trị giá 140.000đ; chiếc điện thoại Iphone 7plus màu vàng hồng của anh Hân trị giá 7.794.000đ. Tổng tài sản bị cáo trộm cắp được là 13.814.500đ (mười ba triệu tám trăm mười bốn nghìn năm trăm đồng).
Tại phiên tòa bị cáoNguyễn Văn D đã thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1, Điều 173 BLHS năm 2015, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Quá trình phạm tội lần thứ nhất bị cáo cải trang bằng cách khoác áo blu màu trắng do bị cáo đã trộm cắp được của chị Hồng tại bệnh viện nhằm tránh sự phát hiện mất cảnh giác của người khác để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây tâm lý hoang mang lo lắng, bất bình đối với quần chúng nhân dân làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an xã hội trên địa bàn dân cư. Tại biên bản giám định pháp y tâm thần số 203/BBGĐTC ngày 18/6/2019 của Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận: “Tại thời điểm phạm tội bị cáo đủ khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi”. Nhân thân bị cáo cũng đã từng bị xử lý về tội “Trộm cắp tài sản” thể hiện tại bản án số 23/2014/HSST, ngày 11/7/2014 của Tòa án nhân dân thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo không lấy đó là bài học kinh nghiệm để tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội mà ngày càng lấn sâu vào con đường phạm tội, chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém, nên cần phải có đường lối xử lý nghiêm minh, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra để bị cáo thấy được sự nghiêm minh của pháp luật.
. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu tại bản án số 23/2014/HSST, ngày 11/7/2014 của Tòa án nhân dân thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong vụ án này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo qui định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 BLHS năm 2015. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các nhân chứng trong vụ án, người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Bị cáo phạm tôi lần này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản trộm cắp được chủ yếu sử dụng vào mục đích sở thích cá nhân, cơ quan cảnh sát điều tra đã phát hiện kịp thời và đã thu hồi trả lại cho người bị hại. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ đó là thành khẩn khai báo qui định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS năm 2015, do đó cũng cần xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo, nhưng việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, như vậy mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Bạch Thị Hiền; anhVũ Như Hvà chịLương Thị Hđã nhận lại được tài sản và có có yêu cầu gì khác nên miễn xét
. Về án phí: Bị cáoNguyễn Văn D , phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm g, khoản 1,
Điều 52; Điều 38 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Điều 61, Điều 62 và Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố:Nguyễn Văn D , phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt:Nguyễn Văn D , 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ đi thời gian đã tạm giữ trước đó.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Có mặt bị cáo vắng mặt người bị hại và những người làm chứng.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi các bị hại cư trú.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an TP Sầm Sơn; - VKSNDTP Sầm Sơn; - Chi cục THADSTP Sầm Sơn; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thuyên |