- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM VĂN C PHẠM TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH THEO KHOẢN 2 ĐIỀU 134 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…"
- Tòa quyết gì? Điểm a, i khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| HUYỆN C TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2019/HS-ST Ngày: 29/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khuyên.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hưng Sơn
2. Bà Thái Thị Thủy Tiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Trung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Báu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:
Phạm Văn C, sinh năm: 1997 tại Đồng Nai; Tên gọi khác: không
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 68, tổ 2, ấp 11, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở: số 0, tổ 2, ấp 01, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn H, sinh năm 1977 (còn sống) và bà Đỗ Thị Bích N, sinh năm 1980 (còn sống); gia đình có 03 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con.
- Tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2019 cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: anh Sỳ Say K, sinh năm 1994 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
* Người làm chứng:
1. anh Nguyễn Quang G, sinh năm 1997 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
2. anh Lâm Chí Th, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
3. anh Nguyễn Trung Nh, sinh năm 1994 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
4. anh Nguyễn Châu Quốc T, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 12/01/2019, bị cáo Phạm Văn C cùng với Nguyễn Trung Nh, sinh năm 1994; Lâm Chí Th (S), sinh năm 1997; Nguyễn Quang G, sinh năm 1997 cùng ngụ tại Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai và một người tên V (không rõ nhân thân, lai lịch) ngồi uống rượu với nhau tại nhà Nguyễn Trung Nh. Trong lúc ngồi uống rượu thì Nh mới kể lại việc Nh bị mất trộm gà và ghi ngờ Sỳ Say Kh (tên gọi khác là G), sinh năm 1994 ngụ cùng ấp lấy trộm gà. Sau đó Nh gọi điện thoại cho Kh hỏi về việc mất gà thì Kh nói Nh mang theo 1.500.000 đồng đến nhà Nguyễn Châu Quốc T (B), sinh năm 1993 ngụ ấp Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai gặp Kh sẽ chỉ chỗ cho chuộc lại gà. Nghe Kh nói vậy Nh định đi gặp Kh thì C, Thành, G và V xin đi theo nên cả nhóm cùng đi gặp Kh. Trước khi đi, bị cáo đi ra phía sau nhà của Nh lấy 01 con dao tự chế, dài khoảng 40cm đem giấu trong người và không nói cho ai biết.
Khoảng 14 giờ cùng ngày, bị cáo cùng Nh, Th, Gi và V đến nhà T. Khi đến nơi, Nh đi vào nhà nói chuyện với Kh còn bị cáo, Th, Gi và V đứng ngoài đường cách nơi Kh và Nh nói chuyện khoảng 04 mét đến 05 mét. Trong lúc Nh nói chuyện với Kh thì sảy ra tranh cải, nên bị cáo đi vào nói chuyện với Kh. Lúc này Kh và bị cáo xảy ra mâu thuẫn, nên Kh bỏ đi về thì bất ngờ bị cáo dùng con dao đem theo giấu trong người chém Kh, Kh quay người lại và đưa tay trái lên đỡ thì bị dao chém trúng vào khuỷu tay trái làm cho Kh gục xuống. Sau khi chém Kh thì bị cáo được Nh căn ngăn nên cả nhóm của bị cáo bỏ đi về, Kh được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực L. Sau khi phạm tội, bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 28/6/2019 thì bị bắt giữ.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0162/TgT/2019 ngày 28 tháng 02 năm 2019 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế tỉnh Đồng Nai đã kết luận thương tích của Sỳ Say Kh:
- Tổn thương gãy 1/3 dưới xương cánh tay trái đã phẫu thuật kết hợp xương hiện can xấu, trục lệch, có mãnh rời. Tỷ lệ: 25%.
- Sẹo cánh tay trái dọc xuống khuỷu trái bao gồm sẹo mổ kích thước 12 x 0,3cm. Tỷ lệ: 03%
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể (áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 27% (hai mươi bảy phần trăm).
* Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) con dao dài 40cm, lưỡi rộng 2,5cm, loại dao tự chế, cán dao bằng nhựa màu đen.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Sỳ Say Kh yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí nằm viện, tổn thất tinh thần số tiền 70.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này, tuy nhiên hiện tại bị cáo chưa bồi thường cho anh Kh số tiền nào.
* Đối với anh Nguyễn Trung Nh, Lâm Chí Th (S), Nguyễn Quang Gi, không bàn bạc với bị cáo về việc gây thương tích cho Kh và không biết bị cáo mang theo con dao trong người khi đi đến gặp Kh nên không phạm tội.
Tại Bản Cáo trạng số: 39/CT-VKSCM ngày 09 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố bị cáo Phạm Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện C giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo C về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng như cáo trạng đã nêu, đồng thời đề nghị:
Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị áp dụng điểm a, i khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134 ; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo C mức án từ 03(ba) năm 06(sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo. Buộc bị cáo bồi thường cho anh Kh số tiền 70.000.000 đồng.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao tự chế dài 40cm, lưỡi rộng 2,5cm
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo và bị hại không trình bày ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm về hòa nhập với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Bị cáo khai nhận vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 12/01/2019, tại nhà của Nguyễn Châu Quốc T thuộc ấp T, xã X, bị cáo đã có hành vi dùng con dao tự chế dài 40cm, lưỡi rộng 2,5cm chém một nhát vào khuỷu tay trái của Sỳ Say Kh gây thương tích cho Kh với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 27%. Sau khi phạm tội, bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 28/6/2019 thì bị bắt giữ theo quyết định truy nã.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa trùng khớp với lời khai ban đầu, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hành vi do bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “cố ý gây thương tích", tội danh và hình phạt quy định tại điểm a, i khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng số 39/CT-VKSCM ngày 09 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy:
Bị cáo là một công dân có đầy đủ nhận thức và năng lực hành vi dân sự, bị cáo nhận thức được hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo đã dùng dao chém trúng vào khuỷu tay trái của Kh gây thương tích. Đáng lẽ, khi bị cáo và Kh xảy ra cãi vã thì bị cáo nên hành xử theo một cách khác nhưng bị cáo đã chọn việc dùng bạo lực để giải quyết, trong khi giữa Kh và bị cáo không có mâu thuẫn gì với nhau mà đây là mâu thuẫn giữa anh Kh với Nh, chứng tỏ bị cáo xem thường tính mạng, sức khỏe của bị hại, hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Sau khi phạm tội bị cáo không đến hỏi thăm bị hại mà còn bỏ trốn phải truy nã. Vì vậy cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội đã thực hiện.
Bị cáo dùng dao chém bị hại là hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ để gây thương tích cho bị hại Kh đã phạm vào điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), do tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại là 27% nên hành vi của bị cáo đã phạm vào điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được xem xét để giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Từ những nhận định đánh giá nêu trên xét cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung.
* Đối với anh Nguyễn Trung Nhàn, Lâm Chí Th (S), Nguyễn Quang Gi, không bàn bạc với bị cáo về việc gây thương tích cho Kh và không biết bị cáo mang theo con dao trong người khi đi đến gặp Kh nên không phạm tội.
Đối với đối tượng tên V. Hiện chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Sỳ Say Kh yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 70.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 70.000.000 đồng cho anh Kh. Vì vậy, ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo và bị hại. Buộc bị cáo bồi thường cho anh Kh số tiền70.000.000 đồng
.Về vật chứng vụ án:
01 (một) con dao dài 40cm, lưỡi rộng 2,5cm, loại dao tự chế, cán dao bằng nhựa màu đen là công cụ bị cáo dùng gây thương tích cho bị hại, hiện không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 3.500.000 đồng án phí DSST.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo chỉ phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận phần phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm a, i khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn C phạm tội “cố ý gây thương tích".
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn C: 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 6 năm 2019.
* Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng khoản 2 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Buộc bị cáo Phạm Văn C bồi thường cho anh Sỳ Say Kh số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
* Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao dài 40cm, lưỡi rộng 2,5cm, loại dao tự chế, cán dao bằng nhựa màu đen (vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/9/2019).
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Văn C phải nộp 200.000(hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 3.500.000 (ba triệu năm trăm ngàn) đồng án phí DSST.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - TAND tỉnh ĐN; - STP tỉnh ĐN; - Công an huyện C; - VKS huyện C (2). - THA.DS huyện C; - THA hình sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã Ký) Lê Thị Khuyên |