vanban.org

Bản án 39/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận ông Nguyễn Viên T và bà Lê Thị Hồng X quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Giao hai con chung Nguyễn Lê Phương A, sinh ngày 22-8-2005 và Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 24-3-2013 cho bà Lê Thị Hồng X trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Viên T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với Nguyễn Lê Phương A mỗi tháng 1.500.000 đồng, tính từ tháng 10 năm 2019 cho đến khi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa ông Nguyễn Viên T và bà Lê Thị Hồng X"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận ông Nguyễn Viên T và bà Lê Thị Hồng X quan hệ vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DI LINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 39/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 26-9-2019
V/v: ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Lệ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Toán

2. Bà Lê Thị Chung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thới Sương – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà My La - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 178/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Viên T, sinh năm 1985

Nơi cư trú: Thôn 7, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Bị đơn: Bà Lê Thị Hồng X, sinh năm 1988

Nơi cư trú: Thôn 6, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 31 tháng 7 năm 2019 và các tài liệu chứng cứ, nguyên đơn của ông Nguyễn Viên T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Lê Thị Hồng X chung sống như vợ chồng từ năm 2004 nhưng không đăng ký kết hôn, sau khi chung sống đến năm 2019 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2019 đến nay, không còn yêu thương, quan tâm nhau. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, ông đề nghị Tòa án giải quyết ông và bà X ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Lê Phương A, sinh ngày 22-8-2005 và Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 24-3-2013. Khi ly hôn tôi yêu cầu giao hai con chung Nguyễn Lê Phương A và Nguyễn Mạnh H cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng, ông có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với Nguyễn Lê Phương A mỗi tháng 1.500.000 đồng, tính từ tháng 10 năm 2019 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản: Tài sản chung và tài sản nợ chung đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản.

Theo lời khai tại bản tự khai và tại phiên tòa bà Lê Thị Hồng X trình bày:

Công nhận lời khai của ông Nguyễn Viên T về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản như trên là hoàn toàn đúng. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2019 đến nay, không còn yêu thương, quan tâm nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, đồng ý ly hôn ông T.

Về con chung: Khi ly hôn bà đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Nguyễn Lê Phương A và Nguyễn Mạnh H, yêu cầu ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với Nguyễn Lê Phương A mỗi tháng 1.500.000 đồng, tính từ tháng 10 năm 2019 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Hiện nay bà không mang thai.

Về tài sản chung: Tài sản chung và tài sản nợ chung đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại điện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của ông T, không công nhận ông T và bà X là vợ chồng. Chấp nhận yêu cầu của ông T về giao con chung. Giao hai con chung Nguyễn Lê Phương A và Nguyễn Mạnh H cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng, ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với Nguyễn Lê Phương A mỗi tháng 1.500.000 đồng, tính từ tháng 10 năm 2019 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về tài sản không xem xét giải quyết. Buộc ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Viên T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bà Lê Thị Hồng X. Bà X hiện đang cư trú tại huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Do đó, căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Viên T và bà Lê Thị Hồng X chung sống như vợ chồng từ năm 2004 nhưng không đăng ký kết hôn, sau khi chung sống đến năm 2019 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2019 đến nay, không còn yêu thương, quan tâm nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cả hai đều đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy, ông T và bà X không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật mà chung sống với nhau như vợ chồng, hiện nay có mâu thuẩn, đã sống ly thân và không còn tình cảm với nhau. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 14; Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên bố không công nhận ông T và bà X quan hệ vợ chồng là phù hợp.

Về con chung: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự, bản sao giấy khai sinh, có cơ sở xác định ông T và bà X có hai con chung là Nguyễn Lê Phương A, sinh ngày 22-8-2005 và Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 24-3-2013. Khi ly hôn hai bên thỏa thuận giao hai con chung Nguyễn Lê Phương A và Nguyễn Mạnh H cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng, ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với Nguyễn Lê Phương A mỗi tháng 1.500.000 đồng, tính từ tháng 10 năm 2019 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Xét thấy, cần ổn định cuộc sống của con chung, nguyện vọng của con chung, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con và thỏa thuận của các bên nên cần giao hai con chung Nguyễn Lê Phương A và Nguyễn Mạnh H cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng, ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với Nguyễn Lê Phương A mỗi tháng 1.500.000 đồng, tính từ tháng 10 năm 2019 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, tài sản nợ chung của vợ chồng: xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng và án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 14, Điều 53, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận ông Nguyễn Viên T và bà Lê Thị Hồng X quan hệ vợ chồng.

2. Về con chung: Giao hai con chung Nguyễn Lê Phương A, sinh ngày 22-8-2005 và Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 24-3-2013 cho bà Lê Thị Hồng X trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Viên T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với Nguyễn Lê Phương A mỗi tháng 1.500.000 đồng, tính từ tháng 10 năm 2019 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Quyền, nghĩa vụ thăm nom con; thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi mức cấp dưỡng của các đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Viên T phải chịu án phí dân sư sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng và 300.000 đồng án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2016/0014355 ngày 05 tháng 8 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

5. Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ