- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Huỳnh Thị H - Hoàng Trọng K"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 07/2019/DS-ST ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2019/DS-PT Ngày: 24-10-2019 V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Trần Thị Bé
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Mỹ Giang
Bà Trịnh Thị Thu Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân
dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 59/2019/TLPT-DS ngày 19 tháng 9 năm 2019 về việc: “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 07/2019/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 133/2019/QĐ-PT ngày 09 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H – sinh năm: 1953;
Địa chỉ: Số 09 NBL, tổ dân phố X, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Hoàng Trọng K – sinh năm: 1989;
Địa chỉ: Đội 05, thôn AT, xã PN, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ đại diện tư vấn H.
Người đại diện theo pháp luật của công ty: Bà Võ Thị Thủy T – Giám đốc, có mặt.
Người kháng cáo: Bà Huỳnh Thị H và ông Hoàng Trọng K.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 22/11/2018, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 08/01/2019, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Huỳnh Thị H là nguyên đơn trình bày:
Do mâu thuẫn gia đình từ trước nên chiều ngày 16/8/2018 bà có nhổ cây cau của gia đình anh Hoàng Trọng K, đến khoảng 17 giờ cùng ngày anh K đi làm về thấy cau bị nhổ nên rượt đuổi đánh bà, bà bỏ chạy ra đường cái chính, anh K cầm khúc cây chạy xe máy tiếp tục đuổi theo bà đến đám ruộng gần nhà bà Phạm Thị Trà M, bà chạy băng qua ruộng thì bị anh K xô ngã nằm dưới ruộng, anh K dùng chân đá vào người bà mấy cái bà không nhớ vì lúc này bà đã ngất xỉu. Khi bà tỉnh dậy thì thấy vợ của anh K đang nằm trên người bà để che chắn không cho anh K đánh bà. Khi bà bị anh K đá ngất xỉu thì được mọi người ở gần đó chạy đến can ngăn và chở bà về nhà. Sau khi bị anh K đánh, do không có người thân ở nhà nên không có ai đưa bà đến bệnh viện điều trị, con dâu bà mua thuốc cho bà uống điều trị tại nhà nhưng không bớt. Đến ngày 20/8/2018 con trai bà chở đến Bệnh viện đa khoa khu vực Đặng Thùy Trâm thăm khám và nhập viện điều trị đến ngày 25/8/2018 thì xuất viện. Anh K dùng chân đá bà gây thương tích bầm, xướt da ở mông, bả vai phải đau nhức cử động khó khăn; ngoài ra bà không bị thương tích nào khác cũng như anh K không dùng cây đánh bà. Lúc bà bị anh K xô ngã thì có chị Phạm Thị Trà M và anh Đặng Văn P ở gần đó chứng kiến. Sau khi xuất viện bà có gửi đơn đến Công an huyện Đ yêu cầu xử lý đối với hành vi gây thương tích cho bà của anh Hoàng Trọng K. Ngày 08/10/2018, Phòng Giám định pháp y Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi có bản kết luận giám định pháp y về thương tích kết luận thương tích của bà là 01%. Ngày 31/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đ có Bản kết thúc giải quyết có nội dung chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, chuyển sang xử lý hành chính đối với anh K về hành vi xâm hại sức khỏe của bà. Bà có mua bảo hiểm y tế tự nguyện, khi điều trị tại bệnh viện bà có đóng tạm ứng số tiền 792.750 đồng, sau khi xuất viện thì bà chỉ thực đóng 20% của số tiền này là 158.550 đồng; bà đã nhận lại số tiền tạm ứng là 634.200 đồng. Tại các phiên hòa giải, bà yêu cầu anh K bồi thường về sức khỏe 10.000.000 đồng, nhưng anh K chỉ đồng ý bồi thường 7.000.000 đồng nên bà không đồng ý. Nay bà yêu cầu anh K phải bồi thường các khoản thiệt hại về sức khỏe do anh K gây ra là 22.647.750 đồng, gồm các khoản: tiền viện phí 792.750 đồng, tiền thuốc khi điều trị 1.354.000 đồng, tiền thuốc khi tái khám 941.000 đồng; tiền bồi dưỡng (sữa uống) khi nằm viện và phục hồi sức khỏe 2.560.000 đồng, tiền mất thu nhập của bà 5.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 5.000.000 đồng, tiền bồi dưỡng (tiền ăn) khi bà nằm viện 5 ngày 500.000 đồng, tiền bồi dưỡng (tiền ăn) của người chăm sóc 5 ngày 500.000 đồng, tiền mất thu nhập của người chăm sóc 5 ngày 1.000.000 đồng, tiền bồi dưỡng sau khi ra viện 5.000.000 đồng.
Theo bản tự khai ngày 22/01/2019, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của bị đơn anh Hoàng Trọng K và tại phiên tòa chị Võ Thị Thủy T trình bày:
Bà Huỳnh Thị H có một mảnh ruộng nằm bên đường vào ngõ nhà của anh K. Gia đình anh K có trồng mấy cây cau ở mép lề phía Đông để tạo cảnh mỹ quan lối đi, đồng thời để giữ được đất lề đường không bị xói lở, còn bên phía ruộng bà H không đắp lề đường nên không trồng được, thì bà H yêu cầu nhổ bỏ cau, sự việc bà H đã gửi đơn đến UBND xã PN giải quyết nhiều lần. Đến 17 giờ 30 phút ngày 16/8/2018, anh K đi làm về thì gặp bà H đứng ở đám ruộng của bà, anh có hỏi bà H tại sao lại nhổ hết cau của anh và đổ thuốc độc xuống các cây cau sẽ ngấm vào nguồn nước uống thì hai bên xảy ra cãi nhau. Anh K cầm khúc cây dài khoảng 50cm dùng xe máy chạy theo bà H đến đám ruộng gần nhà bà Phạm Thị Trà M thì bà H lội xuống ruộng và tự vấp ngã nằm xuống ruộng lúa, anh K chạy đến lỡ đà đạp vào chân bà H hai cái chứ không đá bà H. Khoảng 03 phút sau thì có anh Đặng Văn P, chị M chạy đến can ngăn. Việc bà H nằm viện anh K không biết, sau này mới biết nhưng không đến thăm nom. Bà H gửi đơn đến Công an huyện Đ, Công an có triệu tập anh K đến làm việc nhiều lần; sau đó xử phạt vi phạm hành chính anh K về hành vi xâm phạm sức khỏe của bà H với số tiền 2.500.000 đồng, anh K đã nộp phạt xong. Trước đây anh K chỉ đồng ý bồi thường cho bà H số tiền 7.000.000 đồng gồm: tiền viện phí bà H thực tế chi trả, tiền thuốc khi điều trị 1.354.000 đồng, tiền bồi dưỡng (tiền ăn) khi bà H nằm viện 500.000 đồng, tiền bồi dưỡng (sữa uống) 2.560.000 đồng, tiền bồi dưỡng (tiền ăn) của người chăm sóc 500.000 đồng, tiền bồi dưỡng sau khi xuất viện 2.000.000 đồng, còn các khoản khác anh K không đồng ý bồi thường. Việc anh K đồng ý bồi thường cho bà Huỳnh Thị H là do anh K muốn đổi lấy sự bình yên, chứ không phải vì anh K là người gây thương tích cho bà H. Theo kết luận giám định pháp y kết luận thương tích của bà H “01 sẹo dát vùng mông trái” và vết thương phù hợp với vật tày gây nên, kết luận này là không phù hợp với thực tế vì khi bà H đang chạy thì bị vấp ngã xuống ruộng thì không thể nào mông của bà H tiếp xúc với đất trước, hơn nữa ruộng lúa đang có nước, lúa, đất ruộng mềm, bà H có mặt quần nên không thể gây ra vết thương chảy máu để lại sẹo dát, đồng thời nếu anh K dùng chân đạp bà H thì bà H không thể nào đứng dậy đi về được, chứng tỏ lời khai của bà H là gian dối, vết thương của bà H không phải do anh K gây ra. Anh Hoàng Trọng K không có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho bà H, đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H. Trường hợp vẫn xác định anh K phải bồi thường cho bà H thì phải xác định bà H cũng có một phần lỗi để tính bồi thường thiệt hại.
Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2019/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi đã xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị H. Buộc anh Hoàng Trọng K phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Huỳnh Thị H với số tiền 8.852.550 đồng (tám triệu tám trăm năm mươi hai nghìn năm trăm năm chục đồng).
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện số tiền có nghĩa vụ phải trả thì bên phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo qui định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm cho nguyên đơn với số tiền 13.795.200 đồng (mười ba triệu bảy trăm chín mươi lăm nghìn hai trăm đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 03/7/2019, anh Hoàng Trọng K kháng cáo yêu cầu sửa bản án dân sự sơ thẩm số 07/2019/DS-ST ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 05/7/2019, bà Huỳnh Thị H kháng cáo yêu cầu Tòa án buộc ông Hoàng Trọng K phải bồi thường: Tiền viện phí 792.750 đồng, tiền bồi dưỡng sau khi ra viện 5.000.000 đồng, tiền tổn thất thu nhập 5.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 5.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định về thụ lý, chuẩn bị xét xử, triệu tập những người tham gia tố tụng theo đúng quy định tại Điều 285, 286, 287, 294 và 298 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với người tham gia tố tụng: Bà Huỳnh Thị H, anh Hoàng Trọng K, chị Võ Thị Thủy T thực hiện đúng các quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét kháng cáo của nguyên đơn Huỳnh Thị H: Do mâu thuẫn giữa hai gia đình ông K và bà H đã có từ trước, nên vào lúc 17 giờ ngày 16/8/2018, ông K cho rằng bà H đã nhổ hết hàng cau của nhà mình, nên ông dùng xe máy chạy theo bà H, sợ bị ông K đánh bà H chạy vào ruộng lúa và bị vấp ngã, ông K chạy đến dùng chân đá vào người bà H, một lúc sau thì được mọi người can ngăn. Sau đó, bà H về nhà cảm thấy người đau nhứt, có vết bầm nên ngày 20/8/2018 bà đến Bệnh viện Đặng Thùy Trâm khám bệnh rồi nhập viện điều trị. Trên cơ sở xác định việc bà H bị ông K đánh không thuộc trường hợp phải nhập viện điều trị ngay mà 4 ngày sau bà H thấy người đau nhứt và nhập viện điều trị ở những nơi sưng nề, như vậy thương tích của bà H là do ông K gây ra, bà H yêu cầu ông bồi thường thiệt hại do sức khỏe xâm phạm là có cơ sở. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H nộp một giấy yêu cầu bồi thường thiệt hại 5.000.000 đồng để trả cho em gái bà giữ cháu nội trong thời gian bà điều trị một tháng thì thấy tất cả các khoản tiền mất thu nhập cho người chăm sóc bà H lúc bà nằm viện (1.000.000 đồng); tiền thuốc 1.354.000 đồng, tiền sữa 2.560.000 đồng cho bà H bồi dưỡng phục hồi sức khỏe là phù hợp, còn việc bà H yêu cầu tiền bồi dưỡng sau khi ra viện 5.000.000 đồng là không có chứng cứ; bà H yêu cầu ông K bồi thường chi phí nằm viện là 792.750 đồng (chưa trừ bảo hiểm) thì thấy cấp sơ thẩm buộc ông K bồi thường tiền thực tế bà H bỏ ra 158.550 đồng là phù hợp với khoản 1 Điều 590 Bộ luật dân sự 2015; thu nhập thực tế bị mất 5.000.000 đồng thì cấp sơ thẩm đã tính thực tế ngày công của người lao động cùng loại tại địa phương 1.000.000 đồng là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 590 Bộ luật dân sự 2015; tiền bồi thường tổn thất tinh thần bà H yêu cầu 5.000.000 đồng thì cấp sơ thẩm đã cho rằng thương tích của bà H chỉ ở phần mềm, tỷ lệ thương tật 1% và buộc ông K phải bồi thường hai tháng lương tối thiểu là phù hợp. Do đó, kháng cáo của bà H yêu cầu ông K bồi thường cho bà tổng số tiền 21.706.750 đồng là không có cơ sở.
Xét kháng cáo của bị đơn Hoàng Trọng K: Ông K cho rằng ông không muốn Tòa án xét xử nên chấp nhận bồi thường cho bà H 7.000.000 đồng, nhưng bà H không chịu và Tòa án đã đưa ra xét xử vụ án nên ông yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà H, thì thấy: Các khoản tiền cấp sơ thẩm buộc ông K bồi thường thiệt hại cho bà H là có cơ sở.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 07/2019/DS-ST ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đối với bị đơn anh Hoàng Trọng K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là chị Võ Thị Thủy T có mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án: Do mâu thuẫn từ trước, nên khoảng 17 giờ ngày 16/8/2018 bà Huỳnh Thị H có nhổ cây cau của gia đình anh Hoàng Trọng K, anh K đi làm về thấy cau bị nhổ thì hai bên có lời qua tiếng lại, anh K cầm khúc cây dài khoảng 50cm dùng xe máy rượt đuổi theo đánh bà H, bà H bỏ chạy đến đám ruộng gần nhà bà Phạm Thị Trà M thì bị vấp té nên ngã xuống ruộng, anh K đến dùng chân đá 02 cái vào người bà H thì được mọi người chạy đến can ngăn.
Căn cứ lời khai của bà Huỳnh Thị H, lời khai của anh Hoàng Trọng K và lời khai của những người làm chứng Đặng Văn P, Phạm Thị Trà M, có đủ cơ sở xác định anh Hoàng Trọng K đã có hành vi dùng chân đá vào người bà Huỳnh Thị H gây thương tích cho bà H với tỷ lệ thương tật là 01%. Xét hành vi gây thương tích cho bà H nêu trên của anh K chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự, nên Công an huyện Đ đã xử phạt hành chính, xử phạt anh K số tiền 2.500.000 đồng, anh K đã chấp hành xong. Như vậy, anh Hoàng Trọng K là người gây thương tích cho bà Huỳnh Thị H nên bà H yêu cầu anh K bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là có căn cứ theo quy định tại Điều 584; 585 Bộ luật dân sự.
Bà Huỳnh Thị H yêu cầu anh Hoàng Trọng K phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe của bà, Hội đồng xét xử chấp nhận các khoản tiền bồi thường theo quy định của pháp luật và có chứng từ hợp lệ như sau:
Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe: Bà Huỳnh Thị H sau khi bị anh Hoàng Trọng K đánh đã tự mua thuốc điều trị tại nhà với số tiền 213.000 đồng, nhưng vì sức khỏe không hồi phục nên bà H nhập viện điều trị trong thời gian 05 ngày (từ ngày 20/8/2018 đến ngày 25/8/2018). Tiền viện phí bà H thực tế chi trả là 158.550 đồng, tiền thuốc tiếp tục điều trị là 1.141.000 đồng. Trong thời gian điều trị và sau khi xuất viện, bà H cung cấp các hóa đơn mua sữa, nước yến… để bồi dưỡng phục hồi sức khỏe với số tiền 2.560.000 đồng.
Thu nhập thực tế bị mất của bà Huỳnh Thị H: Bà Huỳnh Thị H có thu nhập nhưng không ổn định và không xác định được. Do đó, căn cứ thu nhập trung bình cùng loại tại địa phương xác định thu nhập bị mất của bà H trong các ngày nằm điều trị tại bệnh viện là 200.000 đồng/ngày x 05 ngày = 1.000.000 đồng.
Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc bà H trong thời gian điều trị: Bà H nằm viện điều trị 05 ngày cần có người chăm sóc nên tiền mất thu nhập của người chăm sóc là 200.000 đồng/ngày x 05 ngày = 1.000.000 đồng.
Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm: Xét thương tích của bà H không nghiêm trọng, chỉ bị xây xác ngoài da, nên chấp nhận số tiền bồi thường tổn thất tinh thần cho bà H bằng 02 tháng lương cơ bản là 1.390.000 đồng/tháng x 02 tháng = 2.780.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền anh Hoàng Trọng K có trách nhiệm bồi thường cho bà Huỳnh Thị H là 8.852.550 đồng.
Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị H: Bà H yêu cầu tính số tiền viện phí là 792.750 đồng; tiền bồi dưỡng sau khi ra viện 5.000.000 đồng, tiền tiền mất thu nhập 5.000.000 đồng, tiền bồi thường tổn thất tinh thần 5.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng: Số tiền viện phí thực tế bà H phải trả là 158.550 đồng chứ không phải là số tiền chưa được trừ bảo hiểm y tế 792.750 đồng, nên không thể cho rằng bà bị thiệt hại số tiền 792.750 đồng và yêu cầu anh K phải bồi thường cho bà số tiền này. Bà H cung cấp các hóa đơn mua sữa, nước yến để bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe trong và sau khi điều trị với số tiền 2.560.000 đồng, số tiền này đã được chấp nhận buộc anh K bồi thường cho bà, đồng thời, sau khi xuất viện, sức khỏe của bà H đã hồi phục hoàn toàn nên việc bà H tiếp tục yêu cầu bồi thường 5.000.000 đồng để bồi dưỡng sau khi ra viện là không phù hợp. Đối với số tiền mất thu nhập của bà, bà cho rằng bà ở nhà giữ cháu cho con bà và được con bà trả tiền 3.000.000 đồng/tháng, nhưng bà không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho khoảng thu nhập này, đồng thời thời gian điều trị được tính mất thu nhập của bà chỉ là 05 ngày, sau khi xuất viện bà hoạt động và làm việc bình thường nên không bị mất thu nhập, vì vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu bồi thường này của bà. Đối với tiền tổn thất tinh thần, bà H bị thương tích 01% và đã hồi phục sau khi điều trị, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định bồi thường tổn thất tinh thần cho bà bằng 02 tháng lương cơ sở là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bà Huỳnh Thị H.
Xét nội dung đơn kháng cáo của bị đơn anh Hoàng Trọng K: Anh K cho rằng anh không phải là người gây thương tích cho bà H nên không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà H. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của những người làm chứng Đặng Văn P, Phạm Thị Trà M, lời khai của anh K và của bà H, cùng các tài liệu khác đều xác định anh K có rượt đuổi làm bà H bị ngã và dùng chân đá vào người bà H, gây thương tích cho bà H 01%. Hành vi gây thương tích cho bà H của anh đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Đ điều tra và kết luận không đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự nên chuyển sang xử phạt vi phạm hành chính, anh không khiếu nại Quyết định xử phạt hành chính này và cũng đã chấp hành xong, nên Quyết định này đã có hiệu lực pháp luật. Anh K cho rằng anh không gây thương tích cho bà H, anh không có lỗi và việc anh đồng ý bồi thường một phần thiệt hại cho bà H, cũng như nộp phạt xử phạt hành chính là do muốn đổi lấy sự bình yên là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Huỳnh Thị H là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và anh Hoàng Trọng K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số AA/2014/0004176 ngày 23/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 584; 585; 586; 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Không chấp nhận kháng cáo của bà Huỳnh Thị H và anh Hoàng Trọng K.
1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 07/2019/DS-ST ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H, buộc anh Hoàng Trọng K phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Huỳnh Thị H tổng số tiền 8.852.550 đồng (tám triệu tám trăm năm mươi hai nghìn năm trăm năm mươi đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi suất theo qui định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với khoản tiền và thời gian chậm thi hành án, cho đến khi thi hành xong bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
2. Về án phí:
- Bà Huỳnh Thị H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Anh Hoàng Trọng K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số AA/2014/0004176 ngày 23/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - TAND huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Bé |