- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trịnh Viết T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Viết T phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2018/HS - ST Ngày 31 - 10 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƢƠNG SƠN - HOÀ BÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Trƣờng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Trần Ánh Hồng
Bà: Nguyễn Thị Mai Hoa
- Thư ký phiên toà: Ông Kiều Quang Dự - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Lƣơng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Châm - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 40/2018/TLST - HS, ngày 04 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Viết T; sinh ngày: 20/5/1999 tại xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình,
Nơi cƣ trú: Xóm V, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Trịnh Viết T1 và bà Lê Thị L;
Vợ, con: Chƣa
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/7/2018 đến ngày 09/7/2018.
Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Chị Trịnh Thị L, sinh năm 1973
Nơi cƣ trú: Xóm Đ, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh: Trịnh Viết T1, sinh năm 1975
Nơi cƣ trú: Xóm V, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 18/6/2018, Trịnh Viết T sinh năm 1999; HKTT: X, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình đến nhà bác ruột là Trịnh Thị L, sinh năm 1973; HKTT: Xóm Đ, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình chơi, có anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1968 chồng chị L ở nhà. Trịnh Viết T vào nhà và nói với anh H là đang đói, anh H bảo T vào bếp lấy gạo nấu cơm. Sau khi cắm cơm xong Trịnh Viết T ra ngoài hiên nhà ngồi và nhìn thấy chiếc xe Honda Wave, BKS: 37L4 - 9175 dựng ở cạnh nhà bếp, chìa khóa treo ở bên phải móc khóa xe. Trịnh Viết T nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe mang đi cầm cố lấy tiền tiêu sài cá nhân.
Trịnh Viết T quan sát xung quanh không có ai, anh H đang nằm ở gƣờng trong bếp quay mặt vào tƣờng, Trịnh Viết T dắt xe xuống cổng rồi nổ máy điều khiển xe đi ra Hà Nội chơi, rồi quay về Nam Phƣơng Tiến, huyện Chƣơng Mỹ, TP Hà Nội, gọi điện cho bạn tên là Hoàng Văn T, sinh năm 2000; HKTT: xóm Đ, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình hỏi địa điểm cầm cố xe. Hoàng Văn T cho T số điện thoại của ngƣời có tên là Th ở khu vực Dốc Sống, xã Tân Thành, huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình. Trịnh Viết T điều khiển chiếc xe Honda Wave BKS: 37L4 - 9175 đến khu vực Dốc Sống, xã Tân Thành, huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình cầm cố chiếc xe cho ngƣời đàn ông tên Th lấy số tiền 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm nghìn).
Ngày 03/7/2018 Trịnh Viết T đến cơ quan Công an huyện Lƣơng Sơn đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Biên bản kết luận định giá tài sản ngày 05 - 7 - 2018, của Hội đồng định giá tài sản huyện Lƣơng Sơn kết luận: 01 xe Môtô Honda Wave, màu ghi xanh BKS: 37L4 - 9175 đã qua sử dụng, trị giá tại thời điểm định giá là 4.300.000 đồng (Bốn triệu ba trăm nghìn).
Vật chứng vụ án: Chiếc xe Môtô Honda Wave, màu ghi xanh BKS: 37L4 – 9175, Cơ quan điều tra đã trả cho bị hại chị Trịnh Thị L ngày 18/7/2018.
Cáo trạng số: 41/CT - VKSLS, ngày 02 - 10 - 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Trịnh Viết Tú, về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trịnh Viết T, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Trịnh Viết T, phạm tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trịnh Viết T từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng đến 18 tháng.
Trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Trịnh Viết T đã bồi thƣờng cho bị hại chị Trịnh Thị L 2.300.000 đồng tiền chuộc xe, chị L không có ý kiến gì thêm nên không đề cập.
Vật chứng: Chiếc xe Môtô Honda Wave, màu ghi xanh BKS: 37L4 - 9175 cơ quan điều tra đã trả cho bị hại chị Trịnh Thị L nên không đề cập.
Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Viết T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ Cáo trạng đã truy tố, bị cáo đồng ý với tội danh, điều luật và mức hình phạt, vật chứng mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng hình phạt nhẹ nhất.
Bị hại là chị Trịnh Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị L đã nhận lại tài sản và số tiền chuộc xe, nên không yêu cầu bồi thƣờng đối với bị cáo. Về hình phạt đề nghị xử lý bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, xác nhận đã đứng ra trả tiền bồi thƣờng cho bị hại 2.300.000 đồng, số tiền trên là tiền của bị cáo và gia đình bị cáo, tại phiên tòa không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền trên.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo, bị hại và những ngƣời tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định Tố tụng: Cơ quan điều tra huyện Lƣơng Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lƣơng Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã đƣợc thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng trình tự thủ tục, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trịnh Viết T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của bị cáo, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà hôm nay. Nhƣ vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 18 - 6 - 2018, bị cáo Trịnh Viết T đã có hành vi lén lút trộm cắp chiếc xe Môtô Honda Wave, màu ghi xanh BKS: 37L4
- 9175 của chị Trịnh Thị L. Hành vi của bị cáo Trịnh Viết T đã phạm vào tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo: Trịnh Viết T là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của chị Trịnh Thị L, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng nên phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự, để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo trộm cắp tài sản có trị giá 4.300.000 đồng, thuộc tình tiết định khung hình phạt, đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo Trịnh Viết T, không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có các tình tiết giảm nhẹ, gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thƣờng đầy đủ số tiền chuộc lại xe cho bị hại, bị cáo đầu thú khai báo hành vi phạm tội của mình, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ý kiến của bị cáo đề nghị HĐXX cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, mức thấp nhất để cải tạo tại địa phƣơng. HĐXX chấp thuận ý kiến của bị cáo sẽ cân nhắc khi quyết định hình phạt. Xét bị cáo Trịnh Viết T có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cƣ trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, do vậy không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội, chỉ cần phạt tù nhƣng cho bị cáo hƣởng án treo theo quy định tại Điều 65 BLHS cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung nhƣ đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện kinh tế của bị cáo chƣa có việc làm, là lao động tự do công việc không ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS.
Đối với các đối tượng có liên quan: Trong vụ án có Hoàng Văn T, sinh năm 2000; HKTT: Đất Đỏ, xã Liên Sơn, huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình là ngƣời cung cấp số điện thoại của ngƣời tên Th để Trịnh Viết T cầm cố xe, hiện Hoàng Văn T không có mặt tại địa phƣơng, Cơ quan CSĐT công an huyện Lƣơng Sơn tách hình vi của Hoàng Văn T để điều tra xác minh làm rõ tiếp tục xử lý sau.
Đối với ngƣời tên Th là ngƣời cho Trịnh Viết T cầm cố chiếc xe lấy 2.300.000 đồng, tại Dốc Sống, xã Tân Thành, huyện Lƣơng Sơn, cơ quan CSĐT Công an huyện Lƣơng Sơn đã xác minh nhƣng chƣa xác minh đƣợc căn cƣớc, lai lịch. Cơ quan CSĐT Công an huyện Lƣơng Sơn tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Chị L đã chuộc chiếc xe hết 2.300.000 đồng, gia đình bị cáo đã bồi thƣờng trả số tiền trên, bị hại không có ý kiến yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thêm nên HĐXX không xem xét. Đối với số tiền 2.300.000 đồng trả cho chị L là số tiền của bị cáo và gia đình bị cáo, tại phiên tòa anh Trịnh Viết T1 không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét,
Về vật chứng của vụ án: Chiếc xe Môtô Honda Wave, màu ghi xanh BKS: 37L4 – 9175, Cơ quan điều tra đã trả cho bị hại chị Trịnh Thị L là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Viết T phạm tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Trịnh Viết T: 06 (sáu) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trịnh Viết T cho Uỷ ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội, buộc bị cáo Trịnh Viết T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lƣơng Sơn; - TAND tỉnh HB; - Sở Tƣ pháp tỉnh HB; - Công an huyện Lƣơng Sơn; - Chi cục THA DS huyện; - Bị cáo; - Bị hại; ngƣời có quyền, nghĩa vụ liên quan; - Lƣu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Kim Trường |