- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn M trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2018/HS-ST Ngày 27-6-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Thanh Sơn
Ông Võ Trường Tam
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Tuấn Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An tham gia phiên toà: ông Nguyễn Hồng Kim – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2018/TLST – HS ngày 31 tháng 5 năm 2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Phạm Văn M, sinh năm 1991, tên gọi khác: M; nơi sinh: Thành phố M; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thành phố M; chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H, sinh năm: 1967 và bà Phạm Thị L, sinh năm: 1957; Anh chị em ruột 02 người, bị cáo là con lớn nhất; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền sự: Không
Tiền án: 02.
Ngày 30/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố M xử phạt 15 tháng tù giam, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 336/2014/HSST và 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 339/2014/HSST.
Tổng hợp hình phạt theo Quyết định số 02/THHP ngày 31/10/2014 của Tòa án nhân dân huyện C, thành phố M, buộc bị cáo Phạm Văn M phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2014. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/5/2016, chưa xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/02/2018 đến nay, có mặt.
Người bị hại: Phạm Thị N, sinh năm 1990, địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện G, tỉnh A. (Vắng mặt)
Người làm chứng:
Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1966, địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện G, tỉnh A. (Vắng mặt)
Mai Hoàng A, sinh năm 1986, địa chỉ: Ấp 1, xã Y, huyện L, tỉnh A. (Vắng mặt)
Tăng Phước T, sinh năm 2001, địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện G, tỉnh A. (Vắng mặt)
Lương Hoàng D, sinh năm 1994,: địa chỉ: Ấp 1, xã Y, huyện L, tỉnh A. (Vắng mặt)
Nguyễn Văn T1, sinh năm 1971, địa chỉ: Ấp 1, xã Y, huyện L, tỉnh A. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 19/02/2018, Phạm Văn M là người có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích đang ngồi uống cà phê ở chợ Đ, quận 8, Thành phố M thì gặp đối tượng tên B không rõ lai lịch, địa chỉ. Tại đây, B rủ M đến địa bàn tỉnh Long An đề tìm tài sản trộm bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, thì M đồng ý. Sau đó, B đem theo kìm cộng lực và chai xịt hơi cay rồi điều khiển xe mô tô loại Nouvo màu xanh không rõ biển số của B chở M từ chợ Đ đến địa bàn huyện G. Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, khi đến khu vực ấp T, xã L, huyện G, B phát hiện nhà bà Nguyễn Thị Thu H đóng cửa, không người trông coi nên B chạy xe vào, B dùng kìm cộng lực bẻ gãy khoen khóa cửa nhà trước, sau đó đưa cho M 01 chai xịt hơi cay và 01 đèn pin để M đột nhập vào trong nhà tìm tài sản lấy cắp và sử dụng chai xịt hơi cay để chống trả tẩu thoát khi bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ, còn B chạy xe mô tô ra phía ngoài cảnh giới. Khi vào nhà lục soát, M phát hiện và lấy cắp trong tủ nhựa ở nhà sau có 01 hộp đựng nữ trang, bên trong có 02 sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng, 02 đôi bông tai bằng kim loại màu trắng và 03 mặt dây chuyền bằng kim loại màu trắng của con dâu bà H là chị Nguyễn Thị N. Trong lúc lục soát thì gia đình bà H về phát hiện nên đã truy hô, M cầm hộp nữ trang bỏ chạy thì bị gia đình bà H cản lại làm rớt hộp nữ trang xuống nền nhà, M tiếp tục bỏ chạy và dùng chai xịt hơi cay xịt vào những người truy đuổi để tẩu thoát. M chạy được khoảng 100m thì bị người dân bắt giữ giao cho cơ quan Công an. Qua làm việc, M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Riêng đối tượng tên B đã trốn thoát.
Tại Kết luận định giá tài sản số:15/KLĐG ngày 20/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cần Giuộc, xác định:
- 01 (một) hộp nhựa bên ngoài có bọc vải nhung màu đỏ, hình tròn dẹp, đường kính 8,5cm, loại hộp đựng vàng (đã qua sử dụng), trị giá: 0 đồng;
- 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng (kim loại bạc, trọng lượng 1 chỉ 1 phân 3 li), loại cọng dẹp, dài 47cm (đã qua sử dụng), trị giá 90.400 đồng;
- 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng (kim loại vàng trắng 4 tuổi, trọng lượng 1 chỉ 1 phân 9 li), loại cọng vuông, dài 47,5cm (đã qua sử dụng), trị giá 1.600.000 đồng;
- 02 (hai) chiếc bông tai bằng kim loại màu trắng (kim loại bạc, trọng lượng 1 phân), loại bông tai móc, có gắn 2 hột màu trắng (2 hột giả) (đã qua sử dụng), trị giá 8.000 đồng;
- 02 (hai) chiếc bông tai bằng kim loại màu trắng (kim loại bạc, trọng lượng 1,5 phân), loại bông tai vặn, có gắn 2 hột màu trắng (2 hột giả) (đã qua sử dụng), trị giá 12.000 đồng;
- 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu trắng (kim loại bạc, trọng lượng 4 phân), có gắn 1 hột màu trắng (hột giả) (đã qua sử dụng), trị giá 32.000 đồng;
- 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu trắng (kim loại bạc, trọng lượng 8 phân), có đính nhiều hột đá nhỏ và 1 hột màu trắng (hột giả) (đã qua sử dụng), trị giá 64.000 đồng và 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu trắng, hình vuông (kim loại bạc, trọng lượng 3 phân), có gắn 1 hột đá màu trắng (đã qua sử dụng), trị giá 24.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 1.830.400 đồng (Một triệu tám trăm ba mươi nghìn bốn trăm đồng).
Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Giuộc đã tạm giữ: toàn bộ tài sản bị mất trên do chị Nguyễn Thị N giao nộp. Đối với kìm cộng lực và xe mô tô loại Nouvo màu xanh không rõ biển số là công cụ và phương tiện phạm tội do đối tượng tên B cất giữ nên không thu hồi được. Đối với 01 chai xịt hơi cay và 01 đèn pin là công cụ phạm tội, trong lúc bỏ chạy M đã đánh rơi mất, không thu hồi được.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn M khai: Ngày 19/02/2018 khi bị cáo đang uống café ở chợ Đ, B đến rủ bị cáo đi trộm thì bị cáo đồng ý. B về nhà lấy theo đèn pin, kìm cộng lực và chai xịt hơi cay. Sau đó, B chở bị cáo bằng xe của B đến xã L, huyện G. Khi B phát hiện nhà đóng cửa thì B kêu bị cáo vào nhà lấy tài sản. Khi bị cáo lấy tài sản là hộp nữ trang màu đỏ thì bị phát hiện. Khi bị truy đuổi thì bị cáo có dùng chai xịt hơi cay để xịt về sau những người đuổi theo để cay mắt mà không đuổi theo bị cáo. Hiện nay, bị cáo không có nhà. Mẹ bị cáo cũng đi làm thuê cho người khác nên cũng không có nhà. Bị cáo đã biết lỗi của mình, xin giảm nhẹ cho bị cáo.
Cáo trạng số: 40/CT-VKSCG ngày 30/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo Phạm Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm đ Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An giữ nguyên cáo trạng đã truy tố. Xét bị cáo có nhân thân xấu, ngoài lần phạm tội tại huyện Cần Giuộc, trước đó bị cáo còn phạm tội tại huyện Cần Đước. Tuy nhiên, quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mặt khác bị cáo có trình độ học vấn thấp (không biết chữ), gia đình bị cáo khó khăn nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Văn M từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù.
Vật chứng: Đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên không xét.
Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xét.
Đối với đối tượng tên B không rõ lai lịch, địa chỉ đã cùng với bị cáo M thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Giuộc tách ra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp nên không xét.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo M không trình bày lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án dã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cần Giuộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phạm Văn M là người có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích và đối tượng tên B không rõ lai lịch đem theo kìm cộng lực, đèn pin và chai xịt hơi cay, điều khiển xe mô tô loại Nouvo không rõ biển số đến ấp T, xã L, huyện G phát hiện nhà bà Nguyễn Thị Thu H đóng cửa, không người trông coi nên B chạy xe vào dùng kìm cộng lực bẻ gãy khoen khóa cửa nhà trước rồi chạy xe mô tô ra ngoài cảnh giới, bị cáo M đem theo một chai xịt hơi cay và một đèn pin vào bên trong nhà tìm tài sản thì phát hiện lấy được 01 hộp đựng nữ trang bên trong có 02 sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng, 02 đôi bông tai bằng kim loại màu trắng và 03 mặt dây chuyền bằng kim loại màu trắng, tổng giá trị tài sản là 1.830.400 đồng của chị Nguyễn Thị N, khi bị phát hiện bị cáo M bỏ chạy, đồng thời dùng chai xịt hơi cay xịt vào những người truy đuổi nhằm tẩu thoát. Hành vi nêu trên của bị cáo M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đồng thời ảnh hưởng trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo vì lười lao động nhưng muốn hưởng thụ trên công sức của người khác nên lén lún chiếm đoạt tài sản của họ. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân xấu, ngoài lần phạm tội tại huyện Cần Giuộc, trước đó bị cáo còn phạm tội tại huyện Đ. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mặt khác bị cáo có không biết chữ, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về vật chứng: Tài sản bị trộm Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Giuộc đã trao trả cho chị N là phù hợp nên không xét.
Về dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét.
Đối với đối tượng tên B không rõ lai lịch, địa chỉ đã cùng với bị cáo M thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Giuộc tách ra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp nên không xét.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[1] Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Phạm Văn M: 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù.
Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, giam là ngày 20/02/2018.
[3] Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Phạm Văn M 45 ngày kể từ ngày 27-6-2018 để đảm bảo việc thi hành án.
[4] Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo Phạm Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Cần Giuộc; - THADS huyện Cần Giuộc; - Công an huyện Cần Giuộc; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẦM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phƣơng Thảo |