vanban.org

Bản án 39/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Vi Thị T và anh Phạm Văn T1 ly hôn.

Về án phí: Chị Vi Thị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm việc ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2015/0004089 ngày 03/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc. Chấp nh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Vi Thị T và anh Phạm Văn T1 ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC LẶC
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2018/HNGĐ-ST
Ngày 28/11/2018
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Viết Giảng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đăng Thảnh

Ông Bùi Trung Thành

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Hà, Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc tham gia phiên tòa:

Bà Hoàng Thị Vân Anh - Kiểm sát viên

Ngày 28/11/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 106/2018/TLST-HNGĐ ngày 03/7/2018 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/10/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2018/QĐST-HNGĐ ngày 13/11/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vi Thị T, sinh năm 1997 (Có mặt) Nơi ĐKTT: Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa Nơi ở hiện nay: Thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Thanh Hóa

Bị đơn: Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1990 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 03/7/2018, nguyên đơn là chị Vi Thị T trình bày: Giữa nguyên đơn và bị đơn là anh Phạm Văn T1 kết hôn với nhau vào ngày 17/6/2016, việc kết hôn là do hai bên hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mn, huyện N, nơi cư trú, sinh sống của anh T1 khi kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại thôn T, xã M, huyện N. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận được khoảng 5 tháng thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng nhau về quan điểm sống, anh T1 ghen tuông vô cớ, nên vợ chồng thường xuyên xảy ra việc cãi cọ, chửi bới nhau. Khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra, gia đình bố mẹ hai bên đã hòa giải nhiều lần, nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng từ tháng 7/2017 và đến tháng 10/2017 vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Theo chị T, mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T và anh Phạm Văn T1 ly hôn. Chị T và anh T1 không có con chung; về tài sản, nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Phạm Văn T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 139/TB-TLVA ngày 03/7/2018, nhưng anh T1 không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của anh T1 đối với yêu cầu khởi kiện của chị T; Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, Thông báo về phiên hòa giải cho các đương sự, nhưng anh T1 không có mặt theo giấy triệu tập và thông báo của Tòa án, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên toà sơ thẩm, bị đơn là anh Phạm Văn T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do; nguyên đơn là chị Vi Thị T, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn. Do anh T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nên chị T yêu cầu xét xử vụ án vắng mặt anh T1 theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc tham gia phiên tòa phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm; việc chấp hành pháp luật của đương sự là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định của pháp luật; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; không có mặt theo thông báo, giấy triệu tập của Tòa án. Nguyên đơn đã xuất trình đầy đủ chứng cứ chứng minh quan hệ vợ chồng của mình là hợp pháp, về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng, vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Việc kiện giữa nguyên đơn chị Vi Thị T, bị đơn anh Phạm Văn T1 là việc kiện về ly hôn, bị đơn cư trú tại huyện Ngọc Lặc, căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tố tụng đầy đủ, đúng trình tự; nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định, Thông báo của Tòa án cho các đương sự, nhưng anh T1 không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, không có mặt theo thông báo của Tòa án, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được; tại phiên tòa, anh T1 vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T1 là đúng quy định của pháp luật.

. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn là chị Vi Thị T và bị đơn là anh Phạm Văn T1 là hợp pháp. Quá trình chung sống giữa hai người đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân xảy mâu thuẫn vợ chồng theo chị T là do vợ chồng bất đồng nhau về quan điểm sống và anh T1 hay ghen tuông vô cớ đẫn đến vợ chồng thường xuyên bất hòa. Khi mâu thuẫn xảy ra, gia đình đã dàn xếp, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn trầm trọng, nên chị T và anh T1 đã sống ly thân từ tháng 10/2017 đến nay. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên hòa giải cho các đương sự, nhưng anh T1 không có mặt theo thông báo của Tòa án, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do, chị T vẫn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T và anh T1 ly hôn. Xét thấy, tình trạng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử chị Vi Thị T và anh Phạm Văn T1 ly hôn.

. Về con chung, tài sản chung: Theo lời khai, tài liệu mà chị T cung cấp, chị T và anh T1 không có con chung; về tài sản chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết phần tài sản, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Chị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

Về hôn nhân: Chị Vi Thị T và anh Phạm Văn T1 ly hôn.

Về án phí: Chị Vi Thị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm việc ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2015/0004089 ngày 03/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc. Chấp nhận chị T đã nộp đủ.

Chị Vi Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; anh Phạm Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ