vanban.org

Bản án 39/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc T được ly hôn anh Nguyễn Văn H. Về con chung: Chị Lê Thị Ngọc T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung Nguyễn Lê Anh U, sinh ngày: 31/3/2016 và Nguyễn Lê Anh A, sinh ngày: 29/10/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Ngọc T yêu cầu Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ R
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 07-6-2018
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Công

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Văn Liêm

2. Bà Phạm Thị Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố R.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 26/2018/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2018 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2018/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc T, sinh năm: 1995

Địa chỉ: Tổ dân phố O, phường N, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm: 1993

Địa chỉ: Tổ dân phố O, phường N, thành phố R, tỉnh Khánh Hòà. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/01/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 2016 và được Ủy ban nhân dân xã CN cấp giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 04/5/2016. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do anh H thường xuyên đánh đập chị, không chịu đi làm, đi chơi với bạn suốt đêm không về, không quan tâm tới vợ con. Khi chị sinh con còn trong tháng, anh H đã đánh đập chị. Hiện nay, chị không còn tình cảm với anh H nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh H.

- Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung Nguyễn Lê Anh U, sinh ngày: 31/3/2016 và Nguyễn Lê Anh A, sinh ngày: 29/10/2017. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R:

- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị T. Về hôn nhân: chị T được ly hôn anh H; về con chung: chị T được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung Nguyễn Lê Anh U, sinh ngày: 31/3/2016 và Nguyễn Lê Anh A, sinh ngày: 29/10/2017, anh H không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Về án phí: chị T phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

* Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Giấy chứng nhận kết hôn của chị T và anh H; Giấy khai sinh cháu U, A; Sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân mang tên chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Lê Thị Ngọc T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố R giải quyết vụ án hôn nhân gia đình giữa chị và anh Nguyễn Văn H. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố R.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn anh H nhưng anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị T và anh H tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và được Ủy ban nhân dân xã CN cấp giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 04/5/2016 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị sống không hạnh phúc, vì anh H thường xuyên đánh đập chị T và không có trách nhiệm với vợ con. Tại Biên bản xác minh ngày 12/3/2018, chính quyền địa phương cung cấp: “Nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Lê Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn H địa phương không nắm được, địa phương chỉ biết là vợ chồng chị T anh H không còn sống chung với nhau khoảng 2 năm nay”. Sau khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng anh chị không tìm cách để hàn gắn mà mỗi người sống một nơi làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt; hiện nay chị T không còn tình cảm với anh H. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng anh H không chấp hành, thể hiện thái độ thờ ơ, bỏ mặc cuộc sống hôn nhân của anh chị. Xét thấy: Mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị T yêu cầu được ly hôn với anh H là có cơ sở, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị T.

Về con chung: Chị T và anh H có 02 con chung Nguyễn Lê Anh U, sinh ngày: 31/3/2016 và Nguyễn Lê Anh A, sinh ngày: 29/10/2017. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Xét: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục sau khi bố mẹ ly hôn là nhằm phát triển tốt cho con cả về mặt thể chất lẫn tinh thần. Hai cháu U và A đều dưới 36 tháng tuổi rất cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ và hiện nay hai cháu đều sống với mẹ. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, cần giao hai cháu U và A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị T về việc không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về “Ly hôn”.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Chị Lê Thị Ngọc T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung Nguyễn Lê Anh U, sinh ngày: 31/3/2016 và Nguyễn Lê Anh A, sinh ngày: 29/10/2017.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị Ngọc T về việc không yêu cầu anh Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con.

* Vì lợi ích của con, hai bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung: Chị Lê Thị Ngọc T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc T phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về “Ly hôn” nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0012137 ngày 24/01/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố R. Chị T đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Chị Lê Thị Ngọc T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Văn H có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ