- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản Võ Xuân Minh - Đỗ Trần Anh"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. NHATRANG -TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39 /2018/DSST Ngày: 18/10/2018 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ NAM HOA
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông NGUYỄN VĂN BẠN
Bà VÕ THỊ BỜI
- Thư ký phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ NHƯ HẠNH - Kiểm sát viên.
Ngày 18/10/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên toà xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 160/2018/ TLST - DS ngày 06 tháng 4 năm 2018, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2018/QĐXX-ST ngày 14 tháng 9 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2018/QĐST - DS ngày 01/10/2018, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Võ Xuân M
Địa chỉ: 26C1 Vĩnh Điềm T, xã V, thành phố N, tỉnh K.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị H
Địa chỉ: 16 M, phường P, thành phố N, tỉnh K
(Theo giấy ủy quyền ngày 19/4/2018)
Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt
* Bị đơn: Ông Đỗ Trần A
Địa chỉ: 19 H, phường P, thành phố N, tỉnh K
Ông A vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện ngày 30/3/2018 của ông Võ Xuân M, quá trình tiến hành tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:
Ông Võ Xuân M và ông Đỗ Trần A có mối quan hệ quen biết. Ông Đỗ Trần A đã hỏi vay tiền ông M, việc vay tiền được hai bên trao đổi bằng lời nói trên cơ sở tin tưởng nhau. Ngày 21/7/2015, ông Võ Xuân M đã cho ông Đỗ Trần A vay số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) bằng hình thức chuyển vào tài khoản ông Đỗ Trần A, số tài khoản là xxxxxxxxxxxx tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), ông Đỗ Trần A đã nhận được số tiền này. Ngày 15/3/2016, ông M lại tiếp tục cho ông A vay thêm 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) bằng tiền mặt tại quán cà phê Paradise, Như vậy, tổng số tiền ông A vay của ông M là 109.000.000 đồng. Ông M đã nhiều lần yêu cầu ông A hoàn trả số tiền nhưng ông A không thực hiện. Ngày 28/7/2017, ông M đã ủy quyền cho Công ty Luật TNHH MTV Vũ Như Hảo và Cộng sự gửi công văn đến ông Đỗ Trần A yêu cầu thanh toán tiền trong vòng 15 ngày kể từ ngày 01/8/2017 nhưng ông Đỗ Trần A vẫn không chịu trả tiền. Do đó, để bảo vệ quyền lợi của mình ông Võ Xuân M khởi kiện ra Tòa yêu cầu buộc ông Đỗ Trần A phải trả cho ông Võ Xuân M số tiền vay là 109.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả theo quy định của pháp luật.
Ngày 17/10/2018 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và xin rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 9.000.000 đồng. Chỉ yêu cầu bị đơn ông Đỗ Trần A trả số tiền vay 100.000.000 đồng và không yêu cầu trả lãi.
- Bị đơn, ông Đỗ Trần A trình bày ý kiến tại bản tự khai ngày 10/5/2018: Tôi khẳng định tôi không có phát sinh bất kỳ giao dịch vay mượn với ông M. Tôi yêu cầu ông M làm rõ hơn giao dịch này. Việc ông M chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng tôi cần có thời gian xác minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm đề nghị HĐXX giải quyết như sau:
Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, HĐXX và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án theo Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định ông Đỗ Trần A có vay mượn của ông Võ Xuân M số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng). Tại Tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu ông Đỗ Trần A phải trả cho ông Võ Xuân M toàn bộ số tiền nêu trên. Việc ông A mượn tiền của M đã lâu mà không trả mặc dù ông M đã nhiều lần yêu cầu, như vậy quyền và lợi ích của ông M đã bị xâm phạm. Nên đề nghị HĐXX căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn ông Đỗ Trần A phải trả cho ông Võ Xuân M số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định :
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố N, theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Đỗ Trần A được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, Tòa án không tiến hành lập biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được. Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất do ông Đỗ Trần A vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Đỗ Trần A vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị H và bị đơn ông Đỗ Trần A.
Về quan hệ pháp luật: Xét thấy qua giấy sao kê và biên bản xác minh tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Khánh Hòa thể hiện ngày 21/7/2015 ông Võ Xuân M có chuyển vào tài khoản số xxxxxxxxxxxx tên Đỗ Trần A hai lần với tổng số tiền 100.000.000 đồng nhưng không thể hiện nội dung và thời hạn trả nợ. Ông M đã nhiều lần yêu cầu ông A trả nợ nhưng ông A không trả, như vậy quyền và lợi ích của nguyên đơn đã bị xâm phạm. Tuy nhiên các bên không yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện nên áp dụng Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án ông Võ Xuân M khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Đỗ Trần A trả số tiền vay là 100.000.000 đồng vì số tiền này ông M cho ông A vay được ông M chuyển qua ATM cho ông A hai lần mỗi lần 50.000.000 đồng, tổng cộng là 100.000.000 đồng, không thế chấp tài sản vào ngày 21/7/2015. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, ông M đã cung cấp cho Tòa án giấy sao kê chuyển khoản cho ông A và công văn yêu cầu trả nợ của Công ty Luật TNHH MTV Vũ Như Hảo và Cộng sự vào ngày 28/7/2017. Các giấy tờ này không thể hiện lãi suất và người khởi kiện không yêu cầu về lãi suất nên HĐXX không xem xét.
Tại bản tự khai ngày 10/5/2018 ông Đỗ Trần A không thừa nhận khoản vay này. Ông A được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Ông A cũng không gửi bất cứ tài liệu nào thể hiện ý chí của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông M.
Tại đơn yêu cầu ngày 17/10/2017 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền 100.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi. Nên HĐXX xác định nghĩa vụ trả nợ là của ông Đỗ Trần A đối với khoản tiền vay 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).
Đối với số tiền 9.000.000 đồng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã rút yêu cầu khởi kiện. Việc rút yêu cầu trên của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là hợp pháp và đúng với quy định tại Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự nên HĐXX chấp nhận.
Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án thì ông Đỗ Trần A phải chịu số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Hoàn trả cho ông Võ Xuân M số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố N.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 471; Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 463, Điều 466 và Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 147 ; Điều 217; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Xuân M đối với ông Đỗ Trần A. Buộc ông Đỗ Trần A có nghĩa vụ trả cho ông Võ Xuân M số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng) do đại diện theo ủy quyền của nguyên rút yêu cầu.
2/ Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đỗ Trần A phải nộp 5.000.000đ (năm triệu đồng) án phí DSST.
Hoàn trả cho ông Võ Xuân M số tiền 2.883.000đ (hai triệu, tám trăm tám mươi ba ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0008820 ngày 06/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố N.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh K xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải trả lãi đối với số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền tương ứng với thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không đợc vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án ND Tỉnh Khánh Hòa; - VKS TP Nha Trang; - THA Dân sự TP Nha Trang; - Các đương sự; - Lưu: án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Nam Hoa |