vanban.org

Bản án 39/2018/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị KIm D đối với bà Lê Thị L về tranh chấp hụi.

Buộc bà Lê Thị L có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị KIm D số tiền 23.600.000 đồng (Hai mươi ba triệu sáu trăm ngàn đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngư…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị Kim D - Lê Thị L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị KIm D đối với bà Lê Thị L về tranh chấp hụi.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH LONG AN
Bản án số: 39/2018/DS-ST
Ngày: 26- 7 - 2018
V/v tranh chấp hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quốc Tiết

Ông Đặng Văn Bé

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 10/2018/TLST-DS, ngày 12 tháng 01 năm 2018 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2018/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim D (tên gọi khác: L), sinh năm 1980.

Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Bị đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1969.

Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Kiều Thị S, sinh năm 1964.

Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị Mộng L, sinh năm 1987

Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

2. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1953

Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

3. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967

Địa chỉ: ấp V, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 26/12/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị KIm D trình bày:

Vào ngày 30/11/2010, bà có tham gia một phần hụi do bà Lê Thị L làm chủ hụi, hụi 2.000.000 đồng/tháng, hụi có 21 hụi viên, hụi chết thì đóng 2.000.000 đồng/tháng, hụi sống thì đóng 1.600.000 đồng/tháng. Ngày mãn hụi là ngày 30/7/2012. Bà đã đóng hụi sống được 16 kỳ hụi với số tiền 25.600.000 đồng. Đến kỳ hụi thứ 17 bà L tuyên bố vỡ hụi vào ngày 30/4/2012 nên không đóng hụi nữa. Vào ngày 18/02/2016 bà L có trả cho bà 2.000.000 đồng (bà S là người nhận tiền), còn lại 23.600.000 đồng bà đã đòi nhiều lần nhưng bà L không trả cho bà.

Việc chơi hụi với bà L do mẹ bà tên Kiều Thị S trực tiếp chơi hụi, mỗi tháng bà gửi tiền cho bà S đi đóng hụi, bà không có giao dịch với bà L. Bà L có đưa cho bà danh sách các hụi viên tham gia hụi.

Nay bà yêu cầu bà Lê Thị L phải trả cho bà số tiền hụi 23.600.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bà Lê Thị L là bị đơn trình bày: Bà là chủ hụi, bà thừa nhận bà D có tham gia một phần hụi do bà làm chủ hụi, hụi 2.000.000 đồng/tháng, hụi có 21 hụi viên, hụi chết thì đóng 2.000.000 đồng/tháng, hụi sống thì đóng 1.600.000 đồng/tháng. Trong thời gian bà làm chủ hụi, do các hụi viên hốt hụi không đóng lại tiền hụi cho bà nên bà không có khả năng thanh toán tiền hụi cho các hụi viên còn lại, đến ngày 30/9/2011 bà vỡ hụi. Tính từ ngày chơi hụi đến vỡ hụi, bà D đóng cho bà được 10 kỳ hụi với số tiền 16.000.000 đồng. Sau khi vỡ hụi, bà không có trả cho bà D 2.000.000 đồng như bà D trình bày. Việc chơi hụi không có lập sổ sách theo dõi, bà chỉ gửi cho các hụi viên danh sách những người tham gia hụi.

Nay bà D yêu cầu bà phải trả số tiền hụi 23.600.000 đồng, bà chỉ đồng ý trả lại cho bà D 16.000.000 đồng.

Bà Kiều Thị S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Vào năm 2010, bà D (tên gọi khác là L, con ruột của bà) có đưa tiền cho bà nhờ bà chơi hụi với bà L nên trong giấy hụi bà L đưa cho bà ghi tên hụi viên là L. Vào ngày 30/11/2010, bà có tham gia một phần hụi do bà Lê Thị L làm chủ hụi, hụi 2.000.000 đồng/tháng, hụi có 21 hụi viên, hụi chết thì đóng 2.000.000 đồng/tháng, hụi sống thì đóng 1.600.000 đồng/tháng. Ngày mãn hụi là ngày 30/7/2012. Bà đã đóng hụi sống được 16 kỳ hụi với số tiền 25.600.000 đồng, đến kỳ hụi thứ 17 bà L tuyên bố vỡ hụi vào ngày 30/4/2012 nên không đóng hụi nữa. Khi chơi hụi, bà L có đưa cho mỗi hụi viên 01 bản photo danh sách hụi viên, mỗi khi đóng hụi thì không có ký nhận gì hết. Vào ngày 18/02/2016 bà L có trả cho bà D 2.000.000 đồng, bà là người nhận tiền, còn lại 23.600.000 đồng bà đã đòi nhiều lần nhưng bà L không trả. Bà xác định số tiền bà chơi hụi là tiền của bà D.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Ý kiến về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Bà D yêu cầu bà L trả tiền hụi 23.600.000 đồng, bà L đồng ý trả 16.000.000 đồng vì cho rằng bà D chỉ đóng 10 kỳ hụi tới ngày bà vỡ hụi là ngày 30/9/2011. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với với lời khai của những người làm chứng cùng tham gia trong dây hụi này, bà L cũng không có chứng cứ chứng minh cho việc vỡ hụi vào ngày 30/9/2011 nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D, buộc bà L trả cho bà D số tiền hụi là 23.600.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị KIm D khởi kiện tranh chấp hụi đối với bà Lê Thị L. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định.

[2] Về nội dung vụ án:

Qua lời trình bày của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào danh sách hụi viên do bà Lê Thị L viết và sự thống nhất của các đương sự trong quá trình giải quyết có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 30/11/2010, bà Nguyễn Thị KIm D có tham gia một phần hụi do bà Lê Thị L là chủ hụi, hụi 2.000.000 đồng/tháng, hụi có 21 hụi viên, hụi chết đóng 2.000.000 đồng/tháng, hụi sống đóng 1.600.000 đồng/tháng, ngày mãn hụi là 30/7/2012. Tuy nhiên, giữa bà D và bà L không thống nhất được các kỳ hụi bà D đã đóng, bà D cho rằng đã đóng hụi sống được 16 kỳ với số tiền 25.600.000 đồng, đến kỳ hụi thứ 17 bà L tuyên bố vỡ hụi vào ngày 30/4/2012 nên không đóng hụi nữa, vào ngày 18/02/2016 bà L có trả cho bà 2.000.000 đồng, còn nợ lại 23.600.000 đồng. Còn bà L cho rằng bà D chỉ đóng được 10 kỳ hụi với số tiền 16.000.000 đồng, sau khi vỡ hụi bà không có trả cho bà D 2.000.000 đồng, bà chỉ đồng ý trả lại cho bà D 16.000.000 đồng.

Xét thấy, bà D không cung cấp được giấy nhận nợ hụi của bà L nhưng lời trình bày của bà D phù hợp với lời khai của những người làm chứng là bà NguyễnThị Mộng L, Nguyễn Thị L, là các hụi viên cùng tham gia trong dây hụi này, tại phiên tòa bà L, bà L xác định các hụi viên đóng được 16 kỳ hụi thì bà L vỡ hụi, mỗi tháng đóng hụi đều có sổ sách tự theo dõi, ông Nguyễn Văn M là người tham gia dây hụi khác, ông cũng xác định bà L vỡ hụi vào ngày 30/4/2012. Bà L cho rằng vỡ hụi vào ngày 30/9/2011 nhưng bà L cũng không có chứng cứ gì chứng minh, bà thừa nhận khi bà vỡ hụi thì sau đó bà bỏ đi nơi khác nên không có căn cứ xác định ngày bà L vỡ hụi là ngày 30/9/2011.

Đối với số tiền 2.000.000 đồng bà D cho rằng bà L có trả cho bà nhưng bà L xác định không có trả cho bà D số tiền này, nhưng xét thấy việc bà D trừ số tiền 2.000.000 đồng vào số tiền hụi bà D đã đóng là có lợi cho bà L nên chấp nhận trừ vào số tiền hụi bà D đã đóng cho bà L.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà D là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường nên buộc bà L phải trả cho bà D số tiền hụi là 23.600.000 đồng.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Bà Lê Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định, cụ thể: 23.600.000 đồng x 5% = 1.180.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Điều 471, 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điều 27 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị KIm D đối với bà Lê Thị L về tranh chấp hụi.

Buộc bà Lê Thị L có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị KIm D số tiền 23.600.000 đồng (Hai mươi ba triệu sáu trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Bà Lê Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.180.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị KIm D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị KIm D được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 590.000 đồng theo biên lai thu số 0002022 ngày 10 tháng 01 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

- Toà án tỉnh Long An;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKS huyện Châu Thành;

- THA huyện Châu Thành;

- Các đương sự;

- Lưu HS.

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Cỡ chữ