- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng N khởi kiện đối với Lê Thị O"
- Tòa quyết gì? 92; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228; của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 137 Bộ luật Dân sự; Điều 138 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 39/2018/DS-ST Ngày 16 tháng 11 năm 2018 “V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đức Hợi;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hợi; Ông Y Đo Niê
- Thƣ ký phiên tòa: Ông Phạm Xuân Quyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia
phiên tòa: Ông Y Gon Niê - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2018 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk
xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 84/2018/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2018/QĐST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N. Trụ sở: Số 02, đường L, phường T, quận B, thành
phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình D – Giám đốc Chi nhánh
ngân hàng huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Địa chỉ: Số 55, đường N, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Lắk.
Người được ủy quyền lại: Ông Đỗ Ngọc T – Phó Giám đốc chi nhánh Ngân
hàng theo văn bản ủy quyền số: 124/NHNo-UQ ngày 16/11/2018. Có mặt.
- Bị đơn: Chị Lê Thị O, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn 17, xã E, huyện M, tỉnh
Đắk Lắk. Chị O có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm
1980. Địa chỉ: thôn 17, xã E, huyện M, tỉnh ĐắkLắk. Anh T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 31/8/2018 và các lời khai của người đại diện cho
nguyên đơn trình bày:
Ngày 29/3/2017 Ngân hàng N - Chi nhánh huyện M ký kết hợp đồng tín dụng
số 5210-LAV-201700572 cho hộ chị Lê Thị O vay số tiền 600.000.000đồng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đối với diện tích 228,9m2 đã được UBND huyện M’Đrắk cấp GCNQSDĐ số BA-474752 ngày 21/11/2011 cho hộ anh T, chị O (Hợp đồng thế chấp số H22/2017/HĐTC ngày 15/3/2017) và tài sản gắn liền với đất là nhà xây cấp 3, diện tích 250m2. Phân kỳ trả nợ gốc ngày 16/3/2018 trả 200.000.000đồng; ngày 16/3/2019 trả 200.000.000đồng; ngày 16/3/2020 trả 200.000.000đồng. Lãi suất trong hạn 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn.
Do vợ chồng chị O, anh T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu
buộc vợ chồng chị O, anh T phải trả số nợ tính đến ngày 16/11/2018 là 727.566.667đồng (gồm 600.000.000đồng nợ gốc và 127.566.667đồng tiền lãi) theo hợp đồng tín dụng số 5210-LAV-201700572.
Từ ngày 17/11/2018 tiếp tục tính lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn trên nợ
gốc theo quy định của hợp đồng tín dụng.
Nếu vợ chồng chị O, anh T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của Pháp luật.
* Qua biên bản lấy lời khai, bị đơn chị Lê Thị O trình bày:
Chị O công nhận ngày 29/3/2017 chị O là người đại diện cho gia đình vay
Ngân hàng 600.000.000đồng để nâng cấp nhà ở và mua sắm vật dụng gia đình, khi vay đã thế chấp quyền sử dụng đất có diện tích 228,9m2 đã được UBND huyện M’Đrắk cấp GCNQSDĐ số BA-474752 ngày 21/11/2011 cho hộ chị O, anh T và tài sản trên đất là nhà xây cấp 3 diện tích 250m2. Do làm ăn thua lỗ nên vợ chồng chị O, anh T chưa trả được nợ gốc và tiền lãi phát sinh cho ngân hàng.
* Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T theo quy định
của Pháp luật, nhưng anh T không cung cấp cho Tòa án các chứng cứ, tài liệu đề bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
Bị đơn chị O, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh T có đơn đề nghị
giải quyết vắng mặt nên việc Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là đúng quy định của pháp luật.
Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách
tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) tại phiên tòa đảm bảo quy định về trình tự thủ tục tố tụng dân sự.
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị HĐXX chấp nhận.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự được quy định tại
khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn có nơi cư trú tại: thôn 18, xã Ea Riêng, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn ủy quyền cho người đại diện tham gia phiên tòa, căn cứ điều 85
Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận việc ủy quyền của nguyên đơn. Bị đơn chị O, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh T có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung:
Bị đơn thừa nhận chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như nội dung
và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với hợp đồng tín dụng số 5210-LAV-201700572 là đúng sự thật. Do làm ăn bị thua lỗ nên đến nay bị đơn vẫn chưa thanh toán được một khoản tiền nào kể cả tiền gốc và lãi suất phát sinh cho phía nguyên đơn. Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bên vay đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Các bên giao kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Nội dung hợp đồng ghi nhận khi đến kỳ hạn trả nợ hoặc kết thúc thời hạn cho vay, nếu bên vay không có khả năng trả nợ đúng hạn gốc, lãi và không được chấp thuận cho cơ cấu lại nợ gốc, lãi thì Ngân hàng sẽ chuyển toàn bộ số dư nợ của hợp đồng tín dụng sang nợ quá hạn và bên vay phải chịu lãi suất nợ quá hạn. Hợp đồng cũng quy định Ngân hàng có quyền chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật nếu bên vay vi phạm hợp đồng tín dụng. Đã quá thời hạn trả nợ của kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 16/3/2018, nhưng bên vay không thực hiện đúng với nội dung hợp đồng đã cam kết. Do đó, đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là có cơ sở mặc dù thời hạn trả nợ của những kỳ sau chưa đến hạn, đồng thời bị đơn cũng đã thừa nhận. Nên HĐXX căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự để buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng đối với nguyên đơn.
Đối với khoản tiền mà Ngân hàng yêu cầu vợ chồng chị O, anh T phải
trả bao gồm tiền gốc cho vay 600.000.000đồng, tiền lãi quá hạn tính đến ngày 16/11/2018 là 127.566.667đồng. Xét yêu cầu của ngân hàng đối với khoản tiền cho vay cũng như tiền lãi phát sinh là phù hợp với nội dung hợp đồng mà hai bên đã cam kết. Do vậy cần buộc vợ chồng chị O, anh T phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và tiền lãi suất phát sinh (tính đến ngày 16/11/2018) là 727.566.667đồng, theo hợp đồng tín dụng số 5210-LAV-201700572 ngày 29/3/2017.
Chị O là người ký hợp đồng tín dụng vay vốn nhưng chị O và anh T là
vợ chồng, anh T đã ủy quyền cho chị O ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng, mục đích vay vốn là để sử dụng chung cho việc phát triển kinh tế của gia đình, nên chị O và anh T cùng có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng.
Kể từ ngày 17/11/2018 vợ chồng chị O, anh T còn phải tiếp tục chịu
khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng diện tích 228,9m2 đất đã được
UBND huyện M’Đrắk cấp GCNQSD số BA-474752 ngày 21/11/2011 cho chị O, anh T (Hợp đồng thế chấp số H22/2017/HĐTC ngày 15/3/2017) và tài sản gắn liền với đất là nhà xây cấp 3, diện tích 250m2. Đây là tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của vợ chồng chị O anh T, các bên xác nhận đã thế chấp nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ. Do vậy, trong trường hợp vợ chồng chị O, anh T không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo quy định của luật thi hành án để thu hồi nợ.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, vợ chồng chị O
anh T phải chịu tiền án phí Dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả cho nguyên đơn (20.000.000đồng + 327.566.667đồng x 4%).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 85; Điều
92; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228; của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 137; Điều 138, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự;
Điều 26 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc vợ chồng chị Lê Thị O anh Nguyễn Thanh T phải trả cho Ngân hàng N
727.566.667đồng (gồm 600.000.000đồng nợ gốc và 127.566.667đồng tiền lãi), tiền nợ theo hợp đồng tín dụng số 5210-LAV-201700572 ngày 29/3/2017.
Kể từ ngày 17/11/2018 vợ chồng chị O, anh T còn phải tiếp tục chịu khoản
tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp vợ chồng chị O, anh T không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện
nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo quy định của luật thi hành án để thu hồi nợ.
2. Về án phí:
- Bị đơn vợ chồng chị O anh T phải chịu 33.102.500đồng tiền án phí dân sự
sơ thẩm.
- Trả lại cho Ngân hàng N 16.048.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai số AA/2016/0004693 ngày 13/9/2018 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện M’Đrắk.
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án Dân sự sơ thẩm trong hạn
luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án Dân sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận : -TAND tỉnh ĐắkLắk; -VKSND huyện M’Đrắk; -THADS huyện M’Đrắk; -Đương sự; -Lưu HS. | (Đã ký) Võ Đức Hợi |