vanban.org

Bản án 39/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 05/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 11/10/2017. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 39/2017/HSST
Ngày 05-12-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Như Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Hòa và bà Nguyễn Thị Yên.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Công Dương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2017/HSST ngày 21 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2017/HSST-QĐ ngày 24 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Văn T, sinh năm 1975, tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản H, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông Hà Văn P, sinh năm 1929 và bà Hà Thị U, sinh năm 1937; có vợ là Vì Thị Ế, sinh năm 1976, có 02 con, con lớn 22 tuổi, con nhỏ 21 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam, giữ từ ngày 11/10/2017 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 30 phút ngày 10/10/2017 tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại bản T, xã M, huyện M phát hiện Hà Văn T và một người đàn ông đang ngồi trong một ngôi nhà bỏ hoang có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đến kiểm tra thì người đàn ông đã điều khiển xe máy bỏ chạy, tổ công tác truy đuổi nhưng không bắt giữ được. Hà Văn T không kịp bỏ chạy, tổ công tác đã thu giữ dưới nền nhà tại vị trí trước mặt Hà Văn T đang ngồi 02 túi nilon màu xanh, bên trong đều đựng các viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là ma túy tổng hợp (Hồng phiến), T khai nhận đó là 02 gói Hồng phiến của T mua để bán kiếm lời, Đối với người đàn ông không rõ danh tính đã bỏ chạy là người đang giao dịch mua ma túy với T. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và dẫn giải Hà Văn T về Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Mộc Châu để điều tra xử lý. Tạm giữ của Hà Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel kèm 01 sim.

Về nguồn gốc 02 gói ma túy Hồng phiến mà có Hà Văn T khai nhận: Ngày 10/10/2017 Hà Văn T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại khu vực biên giới Việt – Lào.

Ngày 10/10/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, xác định, số lượng, trọng lượng; lấy mẫu giám định, xác định có phải là chất ma túy không, loại chất ma túy gì, trọng lượng (khối lượng) của mẫu giám định là bao nhiêu, các viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp (Hồng phiến) thu giữ của Hà Văn T như sau:

Cân tách bì số các viên nén màu hồng ở túi nilon màu xanh thứ nhất được trọng lượng 19,48 gam. Lấy 05 viên = 0,50 gam làm mẫu gửi giám định, mẫu ký hiệu T1.

Cân tách bì số các viên nén màu hồng ở túi nilon màu xanh thứ hai được trọng lượng 19,15 gam. Lấy 05 viên = 0,48 gam làm mẫu gửi giám định, mẫu ký hiệu T2.

Tại Kết luận giám định số 973/KLMT ngày 25/10/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T1, T2 là chất ma túy; Loại chất Methamphetamine; Trọng lượng của mẫu gửi giám định T1 = 0,50 gam, T2 = 0,48 gam. Tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ được 38,63 gam; Loại chất Methamphetamine”.

Quá trình điều tra Hà Văn T giữ nguyên lời khai như trong quá trình bị bắt giữ.

Tại bản cáo trạng số 217/CT-VKS ngày 20/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đã truy tố bị can Hà Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đã phát biểu ý kiến, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt đối với bị cáo như sau:

1. Áp dụng điểm m khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự về vật chứng của vụ án: Tạm giữ của bị cáo Hà Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel kèm 01 sim để đảm bảo cho việc thi hành án về án phí hình sự; Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 390 viên = 37,65 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí nội dung cáo trạng đã truy tố cũng như nội dung bản luận tội, bị cáo không có tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện ngày 10/10/2017 bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép 38,63 gam Methamphetamine, mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang. Nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Tại phiên toà bị cáo Hà Văn T vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 18 giờ 15 phút ngày 10/10/2017; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong vật chứng, xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ căn cứ kết luận: Ngày 10/10/2017 Hà Văn T đã có hành vi mua bán trái phép 38,63 gam Methamphetamine, mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự, quy định mức hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian dài là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung (Phạt tiền): Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên tòa thấy gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel kèm 01 sim thu giữ của bị cáo Hà Văn T xét là tài sản hợp pháp của bị cáo, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội. Do đó cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án về án phí hình sự.

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 390 viên = 37,65 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu xét là vật Nhà nước cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại trên 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam sau khi xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

1. Áp dụng điểm m khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Văn T 07 (bảy) năm, 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 11/10/2017.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự về vật chứng của vụ án:

Tạm giữ của bị cáo Hà Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, vỏ mầu đen, viền đỏ, điện thoại đã qua sử dụng cũ, kèm 01 sim để đảm bảo cho việc thi hành án về án phí hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 390 viên = 37,65 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Hà Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ