- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Trí C- CƯỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Trí C phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2017/HS-ST Ngày:15-8-2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Vũ Văn Ái.
- Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Nguyễn Thành Thái – Cán bộ huyện Đoàn huyện Hải Hậu;
2. Bà Trần Thị Phượng – Chủ tịch Hội phụ nữ xã Hải Long.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đính – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Lại Minh Khôi - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 34/2017/HS- ST ngày 17 tháng 7 năm 2017 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2017/HSST- QĐ ngày 04 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Lâm Trí C, sinh ngày 25/02/2001 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 2 tháng 23 ngày); Sinh, trú quán: Tổ dân phố Hùng Uyển, thị trấn C, huyện HH, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hoá: đang theo học lớp 11/12 Trường THPT C Hải Hậu; con ông Lâm Trung K, sinh năm 1971, con bà Mai Thị Cúc, sinh năm 1974; gia đình có 2 chị em, bị cáo là con thứ hai; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 17/05/2017 đến ngày 23/5/2017 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”.
+ Ngƣời đại diện hợp pháp của bị cáo:
Ông Lâm Trung K, sinh năm 1971 (bố đẻ) và bà Mai Thị C1, sinh năm 1974 (mẹ đẻ);
Đều trú tại: Tổ dân phố Hùng Uyển, thị trấn C, huyện HH, tỉnh Nam Định.
+ Ngƣời bị hại: Anh Vũ Văn Thanh, sinh năm 1977;
Trú tại: Tổ dân phố Nguyễn Tảo, thị trấn C, huyện HH, tỉnh Nam Định.
(Có mặt bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bị hại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua mạng xã hội Facebook, Lâm Trí C đã lập 01 nick có tên là “PpapPpap”. Do C biết anh Thanh là người đồng tính nên ngày 13/5/2017 C đã kết bạn, nhắn tin với anh Thanh qua nick của anh Thanh là “Vũ Văn Thanh” và tự giới thiệu mình là người đồng tính nam. C có đề nghị anh Thanh cho xem bộ phận sinh dục của anh Thanh thì anh Thanh đồng ý. Anh Thanh sử dụng chức năng gọi điện thoại có hình ảnh của mạng xã hội Facebook rồi quay hình ảnh bộ phận sinh dục cho C xem trong khoảng thời gian 1 phút. Lúc này, C dùng điện thoại của mình chụp lại hình ảnh bộ phận sinh dục của anh Thanh. Sau đó anh Thanh đề nghị C cho xem bộ phận sinh dục của C nhưng C từ chối nên Thanh đã nói “lượn đi”. Thấy vậy, C liền nhắn tin cho Thanh với mục đích đe dọa anh Thanh để lấy tiền mua điện thoại và tiêu xài cá nhân với nội dung “mày có thích nổi tiếng Facebook...thì nói tao câu...hay để tao gửi ảnh cuộc trò chuyện này cho vợ Nhung mày xem hoặc con gái mày, mày chặn nick này của tao thì mày càng chết con ạ”. Sau đó, C tiếp tục nhắn tin cho anh Thanh với nội dung “Bây giờ thích nộp tiền hay là cho vợ con biết và mày được hót trên Facebook”. C nhiều lần nhắn tin yêu cầu Thanh phải đưa cho C số tiền 3.000.000 đồng thì C sẽ xóa tin nhắn và không đưa hình ảnh bộ phận sinh dục của Thanh lên mạng xã hội. Do lo sợ ảnh hưởng đến bản thân và gia đình nên Thanh đã đồng ý.
Khoảng 15 giờ ngày 17/5/2017, anh Thanh lấy số tiền 3.000.000 đồng cho vào phong bì thư, để sau gốc cây Cau vua trước Cổng Nhà văn hóa tổ dân phố Hùng Uyển thị trấn Cồn, dùng 01 viên gạch đè lên và dùng máy điện thoại chụp ảnh vị trí để tiền gửi cho C xem rồi đi về nhà. Khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, sau khi nhận được hình ảnh mà Thanh gửi, C đi đến vị trí lấy tiền và bỏ 3.000.000 đồng cho vào túi quần rồi chạy ra ngoài đường thì bị Công an huyện Hải Hậu phối hợp với Công an thị trấn Cồn bắt quả tang. Thu giữ của C số tiền 3.000.000 đồng và 01 điện thoại di động Mobell màu trắng có số thuê bao 01685584625.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 14 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố Lâm Trí C về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra cũng như trong giai đoạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo đã có đơn từ chối Luật sư bào chữa cho bị cáo.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo đã thành khẩn khai nhận đã thực hiện hình vi như nội dung vụ án đã nêu trên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Hải Hâ ̣u giữ quyền công tố tại
phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử.
Áp dụng khoản 1 Điều 135, điểm b, p, g khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 69; Điều 54 Bộ luật hình sự đề nghị miễn hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước chiếc điện thoại nhãn hiệu Mobell và tịch thu tiêu hủy 01 chiếc sim điện thoại của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn chấp hành hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội học tập, lao động để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Lâm Trí C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 15 giờ 15 phút, ngày 17/05/2017, sau khi có những hình ảnh về bộ phận sinh dục của anh Vũ Văn Thanh, Lâm Chí C đã sử dụng hình ảnh này để đe dọa, uy hiếp anh Thanh, sẽ cho vợ, con anh Thanh biết và đưa lên mạng xã hội, buộc anh Thanh phải đưa cho C số tiền 3.000.000 đồng. Sau khi chiến đoạt số tiền trên của anh Thanh, Lâm Chí C đã bị C an huyện Hải Hậu và Công an thị trấn Cồn phát hiện bắt quả tang. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đa truy tố đỗ
́i vớ i bị cáo là có căn cứ.
Xét hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, đe dọa đến danh dự nhân phẩm của người khác mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được rõ hành vi phạm tội của mình.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tài sản bị cáo cưỡng đoạt có giá trị không lớn và đã được thu hồi ngay và trả lại cho anh Thanh. Ngoài ra gia đình bị cáo đã bồi thường danh sự, nhân phẩm cho anh Thanh 7.000.000đ . Sau khi nhận lại tài sản cũng như tiền bồi thường anh Thanh đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định quy định tại điểm b, p, g khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Khi phạm tội bị cáo mới 16 tuổi 2 tháng 23 ngày nên bị cáo đuợc áp dụng những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Điều 69 Bộ luật hình sự.
Với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, xét thấy khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt hiện đang học Trung học phổ thông. Vì vậy, để tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục học tập, lao động và trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, xét không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với bị cáo vì việc xử lý người chưa thành niên chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa, phát triển lành mạnh và việc áp dụng hình phạt đối với các bị cáo chỉ thật sự khi cần thiết nên cần miễn hình phạt cho các bị cáo, như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà hôm nay là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã chiếm đoạt của anh Thanh 3.000.000đ, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho anh Thanh. Ngoài ra gia đình bị cáo đã bồi thường danh sự, nhân phẩm cho anh Thanh 7.000.000đ . Sau khi nhận lại tài sản cũng như số tiền bồi thường trên anh Thanh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng của vụ án:
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Mobell. Xét chiếc điện thoại trên bị cáo đã dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với chiếc sim điện thoại có số thuê bao 01685584625 thu giữ của bị cáo, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lâm Trí C phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 135, điểm b, p, g khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 69; Điều 54 Bộ luật hình sự. Miễn hình phạt cho bị cáo Lâm trí C.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell
- Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại có số thuê bao 01685584625.
(Vật chứng trên được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/7/2017 giữa Cơ quan CSĐT Công an Huyện Hải Hậu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).
3. Án phí: Buộc bị cáo Lâm Trí C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Nam Định (1 bản); -VKSND tỉnh+huyện (2bản); - Công an huyện Hải Hậu (1 bản); - Thi hành án phạt tù (2 bản); - Chi cục thi hành án dân sự (1 bản); - UBND thị trấn Cồn (1 bản); - Bị cáo (01 bản); - Lưu hồ sơ + VP (2 bản). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Văn Ái |