- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hồ Ngọc H và Ngô Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hồ Ngọc H được ly hôn với anh Ngô Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƢỚC TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:39/2017/HNGĐ-ST Ngày:26-9-2017. V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƢỚC, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Kỳ Vũ
2. Bà Võ Thị Kim Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Phượng Tuyền -Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:148/2017/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:36/2017/QĐXX-ST ngày 29 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Hồ Ngọc H, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Ngô Văn T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
(Tại phiên tòa có mặt chị H, vắng mặt anh T)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Hồ Ngọc H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ngô Văn T sống chung với nhau năm 2014, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 10/6/2014. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ đầu năm 2016 nguyên nhân do anh T thường xuyên có hành vi đánh chị, mặc dù đã được người thân trong gia đình khuyên ngăn nhưng anh T vẫn không thay đổi nên chị đã đưa con về nhà cha mẹ ruột ở và chấm dứt quan hệ vợ chồng với anh T hơn một năm nay. Trong khoảng thời gian hơn một năm từ ngày chị về nhà cha mẹ ruột ở, chị và anh T hoàn toàn không liên hệ hay quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Chị nhận thấy chị và anh T không còn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Văn T.
Về con chung: Chị và anh T có một đứa con chung tên là Nguyễn Tường V, sinh ngày 06/4/2014, cháu đã sống chung với chị từ khi cháu mới sinh ra cho đến thời điểm cách đây khoảng 03 tháng anh T đến nhà chị, uy hiếp chị, bắt buộc chị phải giao con cho anh T. Vì sợ anh T sẽ gây chuyện với mẹ con chị và gia đình cha mẹ chị nên chị mới để anh T đưa con đi. Sau đó chị nhiều lần liên hệ và đến chỗ anh T ở để được thăm con nhưng anh T cố tình không cho chị gặp con. Từ nhỏ cháu V đã sống với chị và hiện tại cháu còn rất nhỏ nên chị tha thiết xin được nuôi con khi ly hôn. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh T không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Ngô Văn T, trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn, gửi bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ anh Ngô Văn T nhiều lần nhưng anh T vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Nguyễn Hồ Ngọc H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Ngô Văn T và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung.
Phát biểu của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Hồ Ngọc H được ly hôn với anh Ngô Văn T, cho chị H được trực tiếp nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ lời trình bày của đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Hồ Ngọc H tranh chấp yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Ngô Văn T có nơi cư trú tại ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Tiền Giang và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Xét bị đơn anh Ngô Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hồ Ngọc H và anh Ngô Văn T sống chung có đăng ký kết hôn năm 2014, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Chị H cho rằng quá trình chung sống không hạnh phúc do anh T thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình, anh T thường xuyên đánh chị. Mâu thuẫn đã phát sinh nhiều năm, chị đã nhiều lần cho anh T cơ hội sửa đổi nhưng vẫn không có kết quả. Anh, chị đã chấm dứt quan hệ vợ chồng hơn một năm nay. Quá trình ly thân anh, chị hoàn toàn không liên hệ hay quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Tòa án đã tổ chức hòa giải đoàn tụ nhưng anh T không đến tham gia hòa giải. Tại phiên Tòa chị H vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh T. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Hồ Ngọc H.
Về con chung: Chị Nguyễn Hồ Ngọc H yêu cầu trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Tường V, sinh ngày 06/4/2014. Xét thấy cháu Nguyễn Tường V còn nhỏ, lại là bé gái nên rất cần sự người chăm sóc của mẹ và cháu đã sống chung với chị H từ lúc mới sinh ra cho đến thời điểm gần đây anh T đã đưa cháu về ở với anh T và không cho chị H được gặp con làm ảnh hưởng đến quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc con của chị H nên chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con là có căn cứ, đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án, anh T không có ý kiến về việc chị H yêu cầu được nuôi con. Do vậy, căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Ngô Văn T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.
Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy chị H có thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Hồ Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hồ Ngọc H được ly hôn với anh Ngô Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Tường V, sinh ngày 06/4/2014 cho chị Nguyễn Hồ Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Ngô Văn T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.
3. Về cấp dưỡng: Anh Ngô Văn T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Nguyễn Hồ Ngọc H chưa có yêu cầu.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Hồ Ngọc H phải chịu 300.000đồng án phí sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí chị Nguyễn Hồ Ngọc H đã nộp theo biên lai thu số 18758 ngày 21/7/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Chị H đã nộp xong án phí.
6. Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Hồ Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án.
Anh Ngô Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Tân Phước; - CCTHADS huyện Tân Phước; - UBND xã Đ, huyện C, Tiền Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hồ Thị Kim Hƣơng |