- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Lương Thị T và bà Huỳnh Thị H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Thị T đối với bị đơn bà Huỳnh Thị H và ông Đặng Hoàng D về việc tranh chấp hụi.
- Căn cứ chính? Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2017/DS-ST Ngày: 01-8-2017 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Khanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Hoàng Dân
2. Bà Phạm Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng tham gia phiên tòa: Bà Danh Thu Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2017, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2017/TLST-DS, ngày 15 tháng 5 năm 2017 về tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2017/QĐXXST-DS, ngày 13 tháng 7 năm 2017, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lương Thị T, sinh năm 1943, trú tại ấp H, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị H (Hiền), sinh năm 1973 và ông Đặng Hoàng D, sinh năm 1969 (chồng bà H), cùng trú tại ấp X, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang (bà H hiện đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Định Thành (An Giang); bà H và ông D xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 5 năm 2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lương Thị T trình bày:
Vào năm 2012, bà Lương Thị T (gọi tắt là bà T) có tham gia 02 phần hụi do vợ chồng bà Huỳnh Thị H và ông Đặng Hoàng D (gọi tắt là bà H, ông D) làm chủ hụi, cụ thể như sau:
Phần hụi thứ nhất: Áp ngày 15/01/2012 âm lịch, bà T tham gia 01 phần hụi giá 5.000.000 đồng (trong giấy chơi hụi lấy tên là Mợ 2 Bé), gồm có 10 thành viên (11 phần hụi), 01 năm xổ 02 lần. Bà T góp được 05 lần thì bà H bị bể hụi và bỏ trốn khỏi địa phương. Sau đó thì bị bắt về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Số tiền bà T đóng cho bà H tổng cộng là 12.500.000 đồng.
Phần hụi thứ hai: Áp ngày 03/8/2012 âm lịch, bà T có tham gia 01 phần, giá 500.000 đồng (lấy tên là Mợ 2 Bé), gồm có 16 thành viên (18 phần). Bà T góp cho bà H 17 lần với tổng số tiền là 8.500.000 đồng. Tổng cộng bà H còn thiếu bà T là 21.000.000 đồng.
Nay bà T yêu cầu vợ chồng bà H và ông D trả số tiền hụi còn thiếu là 21.000.000 đồng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 07 tháng 7 năm 2017 bị đơn bà Huỳnh Hạnh thừa nhận: Còn nợ bà T số tiền hụi là 21.000.000 đồng, nhưng hẹn khi nào ra tù có điều kiện sẽ trả cho bà T.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 20 tháng 7 năm 2017 bị đơn ông Đặng Hoàng D: Thống nhất theo lời khai của bà H, không có ý kiến gì thêm. Nhưng hiện nay vợ chồng ông D không còn tài sản nên xin Tòa án xem xét cho thời gian trả nợ.
Tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm có: Giấy ghi hụi đề ngày 03/8/2012; Giấy ghi hụi ngày 15/01/20; Biên bản lấy lời khai bà H ngày 07/7/2017; Biên bản lấy lời khai ông D ngày 20/7/2017.
Tại phiên tòa, Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không chấp nhận việc bà H xin ra tù mới trả nợ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Theo biên bản lấy lời khai ngày 07/7/2017 của Tòa án (có xác nhận của Trại giam Định Thành) thì bà H thừa nhận có chơi hụi và còn nợ lại bà T số tiền 21.000.000 đồng, nhưng xin ra tù có điều kiện mới trả nợ cho cho bà T. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng: Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/7/2017 bị đơn bà Huỳnh Thị H xin được xét xử vắng mặt vì lý do đang bị tù giam nên không thể đến tham dự phiên tòa. Đồng bị đơn là ông Đặng Hoàng D (chồng bà H) cũng xin được xét xử vắng mặt vì lý do đi làm ăn xa. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn cũng không có yêu cầu phản tố. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi bị đơn trả số tiền 21.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/7/2017 bị đơn bà H thừa nhận có tham gia chơi hụi với bà T (do bà H làm chủ hụi) và còn nợ lại bà T số tiền là 21.000.000 đồng.
Lời trình bày của nguyên đơn được bị đơn thừa nhận, căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử khẳng định việc bà H làm chủ hụi và còn nợ lại bà T số tiền 21.000.000 đồng là có thật. Nên hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn.
Về thời hạn trả nợ: Xét yêu cầu của bà H và ông D xin Tòa án xem xét cho thời hạn trả nợ, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo quy định tại mục 1, phần III, Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ tư pháp – Bộ tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản có quy định: “Toà án không tự ấn định trong bản án, quyết định thời điểm hoặc thời hạn bên có nghĩa vụ thi hành”.
Do đó việc ông D, bà H hẹn khi nào ra tù mới trả nợ bà T là không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm trả nợ: Việc bà H làm chủ hụi ông D cũng biết và cũng thống nhất với lời trình bày của bà H. Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30…và Điều 37 của Luật này”.
Tại khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây: ...Nghĩa vụ do vợ chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình...”.
Căn cứ Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất buộc vợ chồng ông D, bà H chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà T số tiền hụi còn thiếu là 21.000.000 đồng.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H và ông D phải chịu tiền án phí là 1.050.000 đồng (một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Bà Lương Thị T được nhận lại tiền tạm ứng án phí là 525.000 đồng theo lai thu số 0006523 ngày 11/5/2017 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện U Minh Thượng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 479 Bộ luật dân sự 2005; điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự 2015; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 3 Điều 15, Điều 29 Nghị định 144/2006/NĐ – CP, ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy án phí và lệ phí Tòa án; Điều 92, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Thị T đối với bị đơn bà Huỳnh Thị H và ông Đặng Hoàng D về việc tranh chấp hụi.
2. Buộc bà Huỳnh Thị H và ông Đặng Hoàng D chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà Lương Thị T số tiền là 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong số tiền phải thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà H và ông D phải chịu tiền án phí là 1.050.000 đồng (một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Bà Lương Thị T được nhận lại tiền tạm ứng án phí là 525.000 đồng theo lai thu số 0006523 ngày 11/5/2017 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện U Minh Thượng.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh KG; - Viện kiểm sát nhân dân huyện UMT; - Chi cục Thi hành án DS huyện UMT; - Các đương sự; - Lưu hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tuấn Khanh |