vanban.org

Bản án 39/2017/DS-ST — Dân sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 31/07/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điều 438 Bộ luật Dân sự năm 2005

Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng mua bán hàng hóa"
  • Tòa quyết gì? Điều 438 Bộ luật Dân sự năm 2005
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2017/DS-ST
Ngày: 31/7/2017
V/v: “Tranh chấp Hợp đồng
mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Hứng

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Minh

2/ Bà Trần Thị Thu Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nga – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2017/TLST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2017 về “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 493/2017/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà A – Chủ Doanh nghiệp tư nhân Thương mại Sản xuất X.

Đại diện theo ủy quyền: Bà B (Văn bản ủy quyền ngày 30/3/2017) – (Có mặt).

Cùng địa chỉ: đường N, phường M, quận P, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: 1/ Ông C (Vắng mặt).

2/ Bà D (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: phường Q, quận H, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện cũng như tài liệu, chứng cứ có trong trong hồ sơ, đại diện nguyên đơn bà B trình bày:

Vào ngày 30/9/2015, Doanh nghiệp tư nhân Thương mại Sản xuất X (gọi tắt Doanh nghiệp X) có bán vật liệu xây dựng cho vợ chồng ông C, bà D để xây dựng nhà gồm: Gạch men, cửa nhựa và các thiết bị vệ sinh với tổng số tiền là 36.576.000 đồng.

- Ngày 30/9/2015, vợ chồng ông C, bà D đã thanh toán cho Doanh nghiệp X số tiền 10.000.000 đồng.

- Ngày 26/12/2015, vợ chồng ông C, bà D tiếp tục thanh toán cho Doanh nghiệp X số tiền 15.000.000 đồng.

- Ngày 17/3/2016, vợ chồng ông C, bà D tiếp tục thanh toán cho Doanh nghiệp X số tiền 5.000.000 đồng.

Tổng cộng, ông C, bà D đã thanh toán cho Doanh nghiệp X là 30.000.000 đồng. Số tiền còn lại 6.576.000 đồng, nhiều lần Chủ doanh nghiệp X yêu cầu ông C, bà D thanh toán hết nhưng phía bị đơn cứ hẹn rồi né tránh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc ông C, bà D phải trả số tiền còn nợ là 6.576.000 đồng.

* Phía bị đơn ông C, bà D đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến, do đó không thể hiện ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa,

Đại diện nguyên đơn trình bày, việc tính toán số tiền bị đơn còn nợ có sự sai sót, đồng thời bị đơn đã trả tiếp cho nguyên đơn số tiền 2.000.000 đồng nên chỉ yêu cầu buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền: 4.563.000 đồng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

- Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án tuân theo pháp luật; những người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng theo quy định.

- Về giải quyết vụ án: Từ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện các bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền mua bán hàng hóa là 4.563.000 đồng. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Ông C, bà D với Doanh nghiệp X đã xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa. Quá trình thực hiện giao dịch, ông C, bà D không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo đúng thỏa thuận nên nguyên đơn có đơn khởi kiện, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông C, bà D đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa hơn 02 lần nhưng đương sự đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án (vắng mặt bị đơn) theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào các Phiếu giao hàng mà nguyên đơn cung cấp thể hiện chữ ký người mua hàng là ông C, bà D. Vì vậy, có cơ sở cho rằng giữa Doanh nghiệp X với ông C, bà D đã xác lập hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng. Căn cứ vào Biên bản hòa giải ở cơ sở số 01/BB.HG/2016 ngày 22/9/2016 của Tổ hòa giải số 06 - Phường Cái Khế, thể hiện nguyên đơn yêu cầu ông C, bà D trả số tiền 6.563.000 đồng. Bị đơn ông C trình bày đồng ý trả nợ cho nguyên đơn nhưng đề nghị trả nợ hàng tháng 500.000 đồng cho đến khi hết số tiền đã thiếu kể từ ngày 22/9/2016. Như vậy, có cơ sở để khẳng định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền là 6.563.000 đồng.

Đối chiếu số tiền nợ theo Biên bản hòa giải ở cơ sở số 01/BB.HG/2016 nêu trên và số tiền nguyên đơn yêu cầu khởi kiện 6.576.000 đồng, HĐXX thấy rằng giữa 02 số tiền này là có sự chênh lệch. Đại diện nguyên đơn cho rằng việc sai lệch này xuất phát từ việc tính toán có sự sai sót. Tại phiên tòa hôm nay, phía nguyên đơn xác định lại chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền là 6.563.000 đồng, đồng thời trong quá trình nguyên đơn khởi kiện thì phía bị đơn đã thanh toán tiếp cho nguyên đơn số tiền 2.000.000 đồng. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 4.563.000 đồng.

Từ những phân tích trên cho thấy: yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 4.563.000 đồng theo quy định tại Điều 438 Bộ luật Dân sự năm 2005.

* Đối với việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền nên phải chịu lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ, nhưng nguyên đơn không yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng như đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Với những viện dẫn nêu trên về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung này là phù hợp.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên án phí giá ngạch bị đơn phải nộp là: 300.000 đồng. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 92, 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 438 Bộ luật Dân sự năm 2005

- Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà A – Chủ Doanh nghiệp tư nhân Thương mại Sản xuất X.

Buộc bị đơn ông C, bà D trả cho nguyên đơn số tiền là 4.563.000 đồng (Bốn triệu năm trăm sáu mươi ba ngàn đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn ông C, bà D phải nộp 300.000 đồng.

Nguyên đơn được nhận lại 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 003207 ngày 14/12/2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Đương sự;

- VKSND Q.NK;

- Chi cục THADS Q.NK;

- TAND TP.CT;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Văn Hứng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ