- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "THÁI BÁ HOÀNG S - LÊ ĐÌNH XUÂN M"
- Tòa quyết gì? [1] Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn ông Thái Bá Hoàng S và bị đơn bà Lê Đình Xuân M.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật phí và lệ phí Tòa án; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 389/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25/6/2024 V/v: “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Lê Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Hoàng Việt;
2. Bà Phạm Thị Mỹ Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Hoàng Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Hương – Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 266/2024/HNST ngày 24 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 222/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/6/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Thái Bá Hoàng S, sinh năm 1989 (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Đường M,, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Lê Đình Xuân M, sinh năm 1995 (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ thường trú: Khu phố B, phường Đ, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Hiện đang chấp hành án tại trại giam TD (Z30D) xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận),
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện; các bản tự khai; Biên bản hòa giải cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ nguyên đơn ông Thái Bá Hoàng S trình bày và xác định yêu cầu khởi kiện như sau:
Ông và bà Lê Đình Xuân M kết hôn năm 2016, trong quá trình chung sống ông và bà M có 01 con chung họ và tên Thái Lê Hoàng K, sinh ngày 18/7/2016.Ông và bà M sống chung với nhau được một thời gian nhưng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Đến năm 2019 ông và bà M đã thuận tình ly hôn và được Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vào ngày 06/11/2019. Giao con chung là Thái Lê Hoàng K, sinh ngày 18/7/2016 cho bà Lê Đình Xuân M trực tiếp nuôi dưỡng, ông Thái Bá Hoàng S cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 (bốn triệu) đồng, cấp dưỡng vào ngày 15 hàng tháng, bắt đầu thi hành từ tháng 11/2019 cho đến khi phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
Sau khi ly hôn, mặc dù có Quyết định của tòa án giao con cho bà Lê Đình Xuân M trực tiếp nuôi dưỡng nhưng thực tế ông là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bản thân bà M là mẹ nhưng không lo làm ăn để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, bà M không có công ăn việc làm ổn định, thường xuyên theo bạn bè tụ tập nghiện hút ma túy, sử dụng chất kích thích nên gây rối loạn tâm thần. Lần 1, từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2020 đã đi cai nghiện ma túy tại Trung tâm Điều dưỡng & CNMT Thanh Đa quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Lần 2, vào tháng 8/2020 đi cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy P, tỉnh Bình Phước. Bà M nhiều lần đi khám và điều trị chứng rối loạn tâm thần tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh và hiện nay bà Lê Đình Xuân M hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T, H, Bình Thuận về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành án là 01 năm 09 tháng tù.
Hiện ông là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung Thái Lê Hoàng K, về chỗ ở ông và con đang ở chung với ba mẹ ruột của ông tại địa chỉ đường M, Tổ M, Khu phố B, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và con ông đang học lớp 2 tại Trường Tiểu học T, hàng ngày ông vẫn đưa đón con đi học. Công việc hiện tại của ông là môi giới bất động sản, thu nhập hàng tháng khoảng 20 - 30 triệu đồng đủ để nuôi con. Ngoài ra con rất sợ ở chung với bà M do trước đây nhiều lần bà M sử dụng ma túy gây rối loạn tâm thần dẫn đến những hành động bạo lực, la hét. Do đó sau khi ly hôn bà M không đủ điều kiện về mọi mặt để có thể nuôi con, ông mới là người đủ điều kiện để nuôi con.
Con năm nay mới 8 tuổi, đang tuổi ăn tuổi học, rất cần sự chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng tốt nhất, cần có một môi trường lành mạnh để phát triển cả về thể chất và tinh thần. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con là giao con chung Thái Lê Hoàng K cho ông được trực tiếp nuôi dưỡng và ông không yêu cầu bà Lê Đình Xuân M cấp dưỡng nuôi con.
Bị đơn bà Lê Đình Xuân M trình bày:
Bà Lê Đình Xuân M không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của ông Thái Bá Hoàng S vì các lý do sau:
Ông Thái Bá Hoàng S và bà Lê Đình Xuân M có 01 (một) con chung họ và tên Thái Lê Hoàng K, sinh ngày 18/7/2016. Sau khi ly hôn theo quyết định của Tòa án giao con chung Thái Lê Hoàng K cho bà trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện tại quá trình cải tạo của bà còn 02 tháng nữa là hết hạn và tạm thời con đang được ông Sang chăm sóc. Nay ông Thái Bá Hoàng S khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, bà không đồng ý. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7 phát biểu ý kiến:
1. Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý quy định tại các Điều từ Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ 93 đến 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 86 và Điều 234 Bộ luật Bộ luật tố tụng năm 2015.
3. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ vào đơn khởi kiện số 272 ngày 13/04/2024 của nguyên đơn ông Thái Bá Hoàng S, thì vụ án có quan hệ tranh chấp về “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” là loại tranh chấp được pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn bà Lê Đình Xuân M có địa chỉ thường trú tại: số Khu phố B, phường Đ, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (hiện đang chấp hành án tại trại giam Thủ Đức (Z30D) xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận). Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục tố tụng:
Ông Thái Bá Hoàng S và bà Lê Đình Xuân M đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Sang:
Ông Thái Bá Hoàng S và bà Lê Đình Xuân M ly hôn theo Quyết định số: 815/2019/QĐST-HNGĐngày 06/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận 7, theo đó bà Lê Đình Xuân M là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là trẻ Thái Lê Hoàng K, sinh ngày 18/7/2016, ông Thái Bá Hoàng S cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 (bốn triệu) đồng, cấp dưỡng vào ngày 15 hàng tháng, bắt đầu thi hành từ tháng 11/2019 cho đến khi phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Ông Sang yêu cầu thay đổi trực tiếp người nuôi con chung sau khi ly hôn, ông yêu cầu trực tiếp được nuôi con chung và không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà M không đồng ý yêu cầu thay đổi người nuôi con của ông Sang vì theo quyết định thuận tình ly hôn của Tòa Án nhân dân Quận 7 đã giao con chung cho bà là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Bà đang chấp hành án tại trại giam Thủ Đức, tuy nhiên chỉ còn khoảng 02 tháng nữa là bà sẽ chấp hành xong án. Tạm thời bà đồng ý để cho ông Sang là người chăm sóc con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ bản sao khai sinh số: 738/TLKS-BS ngày 26/7/2016 của Ủy ban nhân dân phường Tân Thuận Đông, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 815/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận 7, TP. Hồ Chí Minh, có cơ sở xác định ông Thái Bá Hoàng S và bà Lê Đình Xuân M có 01 (một) con chung họ và tên Thái Lê Hoàng K, sinh ngày 18/7/2016.
Xét, theo lời trình bày của nguyên đơn, sau khi ly hôn Tòa án giao con chung cho bà M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, tuy nhiên thực tế ông là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bản thân bà M là mẹ nhưng không lo làm ăn để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, bà M không có công ăn việc làm ổn định, thường xuyên theo bạn bè tụ tập nghiện hút ma túy, sử dụng chất kích thích nên gây rối loạn tâm thần. Lần 1, từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2020 đã đi cai nghiện ma túy tại Trung tâm Điều dưỡng & CNMT T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Lần 2, vào tháng 8/2020 đi cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy P, tỉnh Bình Phước. Bà M nhiều lần đi khám và điều trị chứng rối loạn tâm thần tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh và hiện nay bà Lê Đình Xuân M hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T, H, Bình Thuận về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành án là 01 năm 09 tháng tù.
Hiện ông Sang là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung Thái Lê Hoàng K, về chỗ ở ông và con đang ở chung với ba mẹ ruột của ông tại địa chỉ đường M, Tổ M, Khu phố B, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và con ông đang học lớp 2 tại Trường Tiểu học Tân Hưng, hàng ngày ông vẫn đưa đón con đi học. Công việc hiện tại của ông là môi giới bất động sản, thu nhập hàng tháng khoảng 20 - 30 triệu đồng đủ để nuôi con. Ngoài ra con rất sợ ở chung với bà M do trước đây nhiều lần bà M sử dụng ma túy gây rối loạn tâm thần dẫn đến những hành động bạo lực, la hét.
Xét, tại Biên bản hòa giải ngày 31 tháng 5 năm 2024, bà M không có ý kiến phản đối đối với trình bày của ông Sang. Hiện bà M đang chấp hành án tại Trại giam T, H, Bình Thuận về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặc dù các đương sự thỏa thuận sau khi ly hôn bà M là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung, tuy nhiên thực tế bà M không trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung; từ khi ly hôn ông Sang là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung của các đương sự.
Xét, trẻ Thái Lê Hoàng K được ông Sang chăm sóc, nuôi dưỡng và hiện đang học lớp 2 tại Trường tiểu học T, Quận A; năm 2024 được trường phát Giấy khen đạt thành tích học sinh tiêu biểu hoàn thành tốt trong học tập và rèn luyện. Như vậy trẻ Kim phát triển bình thường, đạt thành tích xuất sắc của một học sinh tiểu học. Hàng ngày ông Sang là người đưa đón con đi học, ông sang và con hiện đang sống chung tại nhà cha mẹ ruột của ông. Ông Sang có đầy đủ điều kiện về chỗ ở, công việc và thu nhập ổn định để thực hiện quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.
Xét, về điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình: Hiện nay ông Sang làm nghề môi giới bất động sản, ông Sang trình bày thu nhập của ông hàng tháng từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; Ngoài ra Bà M không có công việc ổn định, do sử dụng chất kích thích nên gây rối loạn tâm thần, nhiều lần đi khám và điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh, từng 02 lần bị đi cai nghiện ma túy ở Cơ sở cai nghiện ma túy. Hiện bà đang phải chấp hành án phạt tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xét về quyền và nghĩa vụ nuôi con theo quy định của pháp luật thì điều đầu tiên phải là cha, mẹ; phải coi trọng và căn cứ vào điều kiện và hoàn cảnh của cha, mẹ để thực hiện việc giao con cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp nhất. Mục đích cũng chỉ để đảm bảo một cuộc sống tốt nhất cho sự phát triển bình thường của con trẻ.
Xét về tổng thể mọi mặt trong đời sống của ông Sang và bà M thì ông Sang đủ các điều kiện về mọi mặt để nuôi con. Trẻ Thái Lê Hoàng K hiện đang học cấp 1, đang ở độ tuổi đi học, cần có người đưa đón chăm sóc trẻ hàng ngày và có nơi ở ổn định lâu dài nhằm hạn chế thay đổi môi trường sống, học tập của trẻ. Hiện tại bà M đang chấp hành án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Trại giam Thủ Đức (Z30D) ngày 09/11/2023 với mức án 01 năm 09 tháng tù, không ở gần người thân nào khác. Ông Sang hiện có nơi ở và công việc ổn định, ông còn nhận được sự hỗ trợ của mẹ đẻ và người thân trong gia đình trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Thái Lê Hoàng K. Đồng thời, con chung cũng có nguyện vọng được sống cùng với ông Thái Bá Hoàng S.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để xác định bà Lê Đình Xuân M không còn đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Thái Lê Hoàng K; ông Thái Bá Hoàng S là người có đủ điều kiện, khả năng nuôi con chung. Vì vậy, việc ông Sang khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi trẻ Thái Lê Hoàng K là có căn cứ, phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; phù hợp với ý kiến về việc giải quyết nội dung vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí
Nguyên đơn ông Thái Bá Hoàng S tự nguyện chịu tiền án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 186, Điều 228, Điều 266, Điều 273, 278 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 68, 69, 70, 71, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015 của Quốc hội và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014,
Tuyên xử:
[1] Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn ông Thái Bá Hoàng S và bị đơn bà Lê Đình Xuân M.
[2] Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Thái Bá Hoàng S về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Giao con chung là trẻ Thái Lê Hoàng K, sinh ngày 18/7/2016 cho ông Thái Bá Hoàng S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Lê Đình Xuân M không cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, bà M được quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom chăm sóc con chung, không ai được cản trở nhưng hai bên không được lợi dụng việc nuôi con, thăm con để làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc nuôi dưỡng con.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Thái Bá Hoàng S tự nguyện chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trămnghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số: 0019164 ngày 24/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành Phố Hồ Chí Minh. Ông Thái Bá Hoàng S đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Nguyên đơn Thái Bá Hoàng S và bị đơn Lê Đình Xuân M có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.
[5] Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 1, 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q.7; - Chi cục THADS Q.7; - Đương sự; - Lưu, hồ sơ (Tk. Vân Anh). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Lê Anh |