vanban.org

Bản án 389/2023/DSST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hồng H.

Buộc chị Huỳnh Thị Kim C, anh Kiều Sơn Đ có nghĩa vụ trả cho chị Lê Thị Hồng H số tiền hụi sống mà chị Lê Thị Hồng H đã góp bằng 2.775.000 đồng (Trong dây hụi mở ngày 07/10/2013, loại hụi 500.000 đồng, hụi khui 01 tháng 01 lần). Chị Lê Thị Hồng Hạnh không yêu cầu tính lãi. Kể từ ngày có đơn yêu cầu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp góp hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hồng H.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 389/2023/DSST
Ngày: 14-9-2023
V/v Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Lệ

2. Ông Hồ Chí Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Thi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 248/2022/TLST–DS, ngày 17/11/2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 471/2023/QĐXXST-DS, ngày 29/8/2023 giữa các đương sự

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng Hạ, sinh năm 1985;

Nơi cư trú: Ấp Ngãi Trung, xã Tập Ng, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

- Người đại diện theo ủy quyền của chị Lê Thị Hồng H: Ông Lê Quốc B, sinh năm 1959; Nơi cư trú: Ấp Ngãi Trung, xã Tập Ng, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có đơn xin vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Kiều Sơn Đ, sinh năm 1980;

Chị Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1981;

Cùng cư trú: Ấp Ngãi Trung, xã Tập Ng, huyện T, tỉnh Trà Vinh và có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án đại diện cho nguyên đơn chị Lê Thị Hồng H là ông Lê Quốc B trình bày: Chị Lê Thị Hồng H có tham gia chơi hụi do chị Huỳnh Thị Kim C làm đầu thảo (Chủ hụi), mở ngày 07/10/2013, khui 01 tháng 01 lần, loại hụi 500.000 đồng với nội dung hình thức góp hụi như sau: Hụi khui đầu tiên vào ngày 07/10/2013, huê hồng cho đầu thảo là 250.000 đồng/lần khui, các bên thỏa thuận bằng lời nói, không có làm văn bản, nhưng đầu thảo có giao danh sách hụi viên cho chị H theo dõi, hụi có 19 phần, chị H tham gia 01 phần. Chị H đóng hụi sống đầy đủ từ lần khui thứ 01 đến lần khui thứ 10. Đến lần khui thứ 11 thì chị C tuyên bố úp hụi. Chị H đóng hụi sống 10 lần với số tiền 2.775.000 đồng. Sau khi bể hụi cho đến nay chị C không có trả số tiền này cho chị H. Chồng chị Kim C là anh Kiều Sơn Đ biết việc C mở hụi làm chủ đầu thảo và không phản đối nên chị H yêu cầu anh Kiều Sơn Đ và chị Huỳnh Thị Kim C có nghĩa vụ trả cho chị Lê Thị Hồng H số tiền hụi sống đã góp trong 10 lần bằng 2.775.000 đồng không yêu cầu tính lãi và xin xét xử vắng mặt.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Huỳnh Thị Kim C trình bày: Trước đây chị có mở hụi làm chủ đầu thảo nhiều dây hụi khác nhau và vào ngày 07/10/2013, chị mở hụi 500.000 đồng làm chủ đầu thảo, hụi khui 01 tháng 01 lần, hụi gồm có 19 phần, Lê Thị Hồng H có tham gia 01 phần, tên trong danh sách hụi là H, chị có giao danh sách hụi cho chị H giữ. Huê hồng cho chủ đầu thảo mỗi lần khui là 250.000 đồng, hụi khui được đến lần 11 thì chị tuyên bố bể hụi, chị H đóng hụi sống được 10 lần bằng 2.775.000 đồng như số lần khui hụi, người hốt hụi và số tiền kiu hụi giống như đơn khởi kiện ngày 01/11/2022 mà chị Hạnh khởi kiện. Nay chị H khởi kiện vợ chồng chị để đòi số tiền góp hụi sống là 2.775.000 đồng, chị thừa nhận còn nợ và đồng ý trả và xin xét xử vắng mặt.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Kiều Sơn Đ trình bày: Anh là chồng của Huỳnh Thị Kim C, chị C có mở hụi làm chủ đầu thảo hụi, anh biết nhưng không phản đối, chị H có tham gia góp hụi với vợ anh nay chị Hạnh khởi kiện đòi số tiền 2.775.000 đồng thì anh đồng ý trả số tiền này với vợ anh nhưng trả từ từ và xin xét xử vắng mặt.

Những vấn đề các đương sự thống nhất: Anh Đ, chị C thừa nhận có nợ chị H số tiền 2.775.000 đồng trong dây hụi mở ngày 07/10/2013. Chị H thống nhất không yêu cầu tính lãi.

Những vấn đề các đương sự không thống nhất: Anh Đ yêu cầu trả nợ từ từ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi”. Bị đơn anh Kiều Sơn Đ, chị Huỳnh Thị Kim C cư trú tại huyện Tiểu Cần nên căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần.

Về tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Quốc B; Bị đơn anh Kiều Sơn Đ, chị Huỳnh Thị Kim C cùng có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án: Chị Lê Thị Hồng H và chị Huỳnh Thị Kim C có lời khai thống nhất xác định: Chị Huỳnh Thị Kim C có làm chủ đầu thảo hụi, chị Lê Thị Hồng H có tham gia trong dây hụi do chị C mở và chị Hạnh có đóng tiền hụi sống như chị H đã khởi kiện bằng 2.775.000 đồng trong dây hụi mở ngày 07/10/2013, loại hụi 500.000 đồng.

Xét thấy: Chị Huỳnh Thị Kim C thừa nhận có làm chủ đầu thảo hụi và chị Lê Thị Hồng H có tham gia góp hụi, chị C còn nợ với số tiền 2.775.000 đồng. Chị H, chị C xác định dây hụi nêu trên đã bể hụi, chị C cũng thừa nhận còn nợ số tiền hụi sống của chị H đã đóng và đồng ý trả cho chị H 2.775.000 đồng. Chồng chị C là anh Kiều Sơn Đ tuy không giao dịch hụi trực tiếp với chị H nhưng anh Đ biết việc chị C mở hụi và đồng ý trả nợ cùng nhưng yêu cầu được trả từ từ. Việc anh Đ yêu cầu được nợ trả từ từ là phương thức thanh toán sẽ được thỏa thuận trong giai đoạn thi hành án. Do đó, yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hồng H buộc chị Huỳnh Thị Kim C, anh Kiều Sơn Đ có nghĩa vụ trả số tiền hụi sống 2.775.000 đồng là có cơ sở chấp nhận toàn bộ. Về lãi suất chị Lê Thị Hồng H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị C, anh Đ phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Lê Thị Hồng H không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39, 85, 92; Điều 147, 228, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các Điều 27, 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ, về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hồng H.

Buộc chị Huỳnh Thị Kim C, anh Kiều Sơn Đ có nghĩa vụ trả cho chị Lê Thị Hồng H số tiền hụi sống mà chị Lê Thị Hồng H đã góp bằng 2.775.000 đồng (Trong dây hụi mở ngày 07/10/2013, loại hụi 500.000 đồng, hụi khui 01 tháng 01 lần). Chị Lê Thị Hồng Hạnh không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn chị Huỳnh Thị Kim C, anh Kiều Sơn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Lê Thị Hồng H không phải chịu án phí; Hoàn trả cho chị Lê Thị Hồng H số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0014290 ngày 17/11/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ