- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà C - ông V"
- Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án: 388/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12-12-2023 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Phước Tân và ông Võ Hoàng
Nghiệp.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thanh Trúc Phương –
Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 317/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 511/2023/QĐXXST-HN ngày 03 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Lê Phước V, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ F, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
(Bà C có đơn xin xét xử vắng mặt, ông V vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Huỳnh Thị C trình bày: Hôn nhân giữa bà và ông V do tự tìm hiểu yêu thương, được cha mẹ đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới vào năm 2018, đến năm 2021 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 8/2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng qua điểm trong cuộc sống gia đình, thường xuyên cãi vả, không tìm được tiếng nói chung. Ngoài ra, do ông V không quan tâm chăm sóc gia đình mà lo ăn chơi, bà đã nhiều lần đứng ra trả nợ và cũng có khuyên ngăn nhưng ông V vẫn không thay đổi. Bà và ông V cũng đã ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay. Gia đình hai bên cũng khuyên ngăn ông V, có ý định hàn gắn cho vợ chồng bà C nhưng ông V ông V không có thiện chí hàn gắn tình cảm và tính tình không sửa đổi, sống không có trách nhiệm với vợ con nên bà không còn tình cảm với ông V nên xin được ly hôn với ông Lê Phước V.
Về con chung: Có 01 con chung tên: Lê Huỳnh Cẩm S, sinh ngày 03/5/2020. Hiện cháu S đang sống với bà C. Khi ly hôn, bà C yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy cháu S, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong vụ án này kể từ khi thụ lý cho đến khi Tòa án ra thông báo phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì ông V vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử (HĐXX) nghĩ nên cần tiến hành việc xét xử mà không qua thủ tục hòa giải.
Tòa án tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để các bên tiếp cận, đương sự thống nhất với những tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp, không bổ sung thêm.
Biên bản xác minh ngày 24/10/2023, người thân bà C cung cấp: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà C, ông V là do ông V không chăm lo cuộc sống gia đình, có tính ăn chơi, bà C đã nhiều lần đứng ra trả nợ mà ông V vẫn không thay đổi tính tình. Trong thời gian ly thân thì ông V bỏ mặc bà C và không tới lui hàn gắn; về con chung thì có 01 con chung, hiện do bà C nuôi dạy; tài sản chung, nợ chung thì bà không biết.
Biên bản xác minh ngày 02/11/2023, ông Nguyễn Công H - Trưởng ấp V, xã V, huyện A cung cấp: Ông Lê Phước V, sinh năm 1989 vẫn còn đăng ký thường trú tại tổ B, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Biên bản Về việc Không làm việc được với đương sự ngày 02/11/2023, có sự chứng kiến của ông Lâm Tuấn K - Phó ấp V, xã V, huyện A cho thấy Tòa án có đến nhà của ông Lê Phước V để ghi lời khai về yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị C nhưng ông V không có ở nhà nên không thể ghi lời khai được.
Tại phiên toà: Bà C vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông V vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân của bà C, ông V có mâu thuẫn trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu nhưng hai bên không có thiện chí hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của cháu sau này được tốt đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà C, giao con chung cho bà C được tiếp tục nuôi dạy. Công nhận sự tự nguyện cùa bà C về việc không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Huỳnh Thị C yêu cầu được ly hôn với ông Lê Phước V. Ông Vũ cư t tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà C vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông V được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà C, ông V theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa bà C, ông V do tự tìm hiểu yêu thương tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang vào ngày 15/01/2021 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của bà C xin ly hôn với ông V, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà C và ông V chung sống từ năm 2018 cho đến năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên cả hai sống ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay. Trong thời gian ly thân cả hai bỏ mặc nhau, không có giải pháp hàn gắn. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ cho cả hai nhưng ông V không có mặt để hàn gắn tình cảm, bà C vẫn cương quyết ly hôn. Cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa hai bên đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này là phù hợp với lời trình bày của người thân trong gia đình bà C, ông V nên yêu cầu ly hôn của bà C là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có 01 con chung: Cháu Lê Huỳnh Cẩm S, sinh ngày 03/5/2020. Hiện cháu S đang sống với bà C và được bà C nuôi dạy. Xét thấy, cháu S còn nhỏ và đang sống chung với bà C. Do đó, để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của cháu sau này được tốt nên căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu S cho bà C được tiếp tục nuôi dạy.
Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn cha hoặc mẹ là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà C không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của đương sự.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà C xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì các đương sự có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Bà C phải chịu án phí hôn nhân & gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị C .
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị C được ly hôn với ông Lê Phước V.
Giấy chứng nhận kết hôn số 04 ngày 15/01/2021 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Bà Huỳnh Thị C được tiếp tục nuôi dạy 01 (một) con chung tên Lê Huỳnh Cẩm S, sinh ngày 03/5/2020.
Công nhận sự tự nguyện của bà C về việc không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông V cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền trực tiếp nuôi con của bà C. Ngược lại, bà C và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Về án phí: Bà Huỳnh Thị C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng mà bà C đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số: 0008519 ngày 06/10/2023.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).
| Nơi nhận: - VKSND huyện (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện (1); - Các đương sự; - UBND nơi đăng ký kết hôn (1); - Lưu hồ sơ (1), - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Sang |