vanban.org

Bản án 388/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 13/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Trọng Đ phạm tội Cướp tài sản.

Xử phạt bị cáo Hồ Trọng Đ 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2019. Các biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hồ Trọng Đ - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Trọng Đ phạm tội Cướp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 388 /2019/HS-ST
Ngày 13 - 11 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Cao Trí

2. Ông Nguyễn Hiếu Trọn

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Nam, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Cao Tấn Ngoan, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2019 tại Hội trường khu phố Thống Nhất 2, phường Dĩ An, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 380/2019/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 399/2019/HSST-QĐ ngày 31/10/2019 đối với bị cáo:

Hồ Trọng Đ, sinh năm 1990 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Xóm 3 xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: 379 N, khu phố N, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê (phụ hồ); trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Hồ Trọng T, sinh năm 1946 và con bà Trần Thị T, sinh năm 1953; bị cáo có 03 anh em, bị cáo là thứ 3; tiền sự, tiền án: Không có. Bị bắt tạm giam ngày 24/5/2019, có mặt.

Bị hại: Chị Mông Thị L, sinh năm 1992; thường trú: Thôn 3 xã C, huyện E, tỉnh ĐắkLắc; tạm trú: 379 N, khu phố N, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

Người chứng kiến : Anh Lê Đăng V, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Hồ Trọng Đ thuê phòng trọ số 4, chị Mông Thị L thuê phòng trọ số 1 dãy nhà trọ số 379 đường N, khu phố N, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Vào lúc 02 giờ 30 ngày 24/5/2019, Đ lấy 1 cái kéo dài khoảng 15 cm cán bằng nhựa màu đen bỏ vào túi quần bên trái đi đến phòng chị L, Đ dùng thùng sơn dùng để chứa nước trong nhà vệ sinh úp lại đứng lên, đu người lên lỗ thông gió nơi có độ hở khoảng 30 cm phía trước gần sát trần phòng trọ, dùng tay đẩy tấm xốp la phông sang một bên, đưa đầu vào phòng trọ của chị L rồi trèo vào. Đ sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO A37 mở chế độ đèn pin soi vào trong phòng trọ gặp chị L đang ngủ trên sàn nhà ở góc trái của phòng bên cạnh chị L để 01 điện thoại Samsung J7 Pro đang sạc pin, 01 xe mô tô để sát vách tường cạnh cửa phòng trọ. Đ trèo qua bức tường bước xuống yên xe mô tô, xuống nền phòng trọ tiếp cận điện thoại bỏ vào túi quần trước bên trái. Thời điểm này chị L thức giấc ngồi dậy hỏi “ai vậy, sao vào phòng”, Đ im lặng, chị L truy hô “trộm, trộm”, Đ xông đến dùng tay trái bóp miệng chị L, tay phải bóp cổ chị L nói “im lặng, đưa tiền đây”. Chị L cắn vào ngón tay thứ ba bàn tay trái của Đ, Đ vùng ra mở cửa phòng trọ chị L chạy ra khu nhà vệ sinh cất giấu cây kéo, điện thoại Samsung J7 Pro của chị L rồi về phòng trọ ngủ. Chị L đến Công an phường A trình báo sự việc, sau đó Đ đến đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: 01 cây kéo dài 15 cm cán bằng nhựa màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Pro màu vàng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37.

Vật chứng đã xử lý: Trả lại chị Mông Thị L điện thoại di động nhãn hiệu Samsung j7 Pro màu vàng.

Kết luận định giá số 127/BB.ĐG ngày 06/6/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Dĩ An, kết luận: 01 điện thoại Samsung J7 Pro màu vàng có giá là 2.300.000 đồng.

Trách nhiệm dân sự: Chị L không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác

Cáo trạng số 397/CT- VKS ngày 24/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hồ Trọng Đ về tội “Cướp tài sản”, theo quy định khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đ từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo dài 15cm cán bằng nhựa màu đen. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nhà nước 1 điện thoại di động hiệu OPPO A37.

Bị cáo Đ không tranh luận, không bào chữa cho hành vi phạm tội. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo nói lời sau cùng: Rất hối hận việc mình làm, xin được giảm nhẹ mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Căn cứ xác định bị cáo phạm tội: Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 24/5/2019, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 24/5/2019, biên bản thực nghiệm điều tra ngày 31/5/2019, lời khai bị hại, lời khai bị cáo Hồ Trọng Đ thể hiện vào khoảng 3 giờ ngày 24/5/2019, bị cáo Đ lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động của chị Mông Thị L có trị giá 2.300.000 đồng thì bị chị L phát hiện, Đ sử dụng tay bóp miệng, bóp cổ chị L sau đó cầm điện thoại tẩu thoát. Như vậy, hành vi trên của bị cáo Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” quy định khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 397/CT – VKS ngày 29/10/2019 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị Đ cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đ không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã ra đầu thú, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả bị hại. Tình tiết trên được quy định điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Đ có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo nhất thời phạm tội.

Về tính chất mức độ tội phạm: Bị cáo Đ phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 10 năm tù, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo ngoài việc xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tài sản hợp pháp của chị Mông Thị L được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội tại địa phương. Do vậy, cần xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Đ để bị cáo tự cải tạo rèn luyện bản thân sau này không vi phạm nữa, cũng như việc răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại L không yêu cầu bồi thường. Do vậy, Hội đồng xét xử không xét.

Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ cây kéo, cần tịch thu tiêu hủy, đối với điện thoại di động hiệu OPPO A37 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, xử lý vật chứng cũng như mức hình phạt đối với bị cáo Đ, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo Đ phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hồ Trọng Đ phạm tội Cướp tài sản.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Trọng Đ 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2019.

2. Các biện pháp tư pháp:

Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kéo dài 15 cm cán bằng nhựa màu đen

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37 số Imei 1: 863008032971516, số Imei 2: 863008032971508. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2019.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14.

Bị cáo Hồ Trọng Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ