- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Đình TH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Trương Đình TH và bị hại Bùi Minh TR không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– Bản án số: 388/2018/HS-PT Ngày: 02-7-2018 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Nam Hà.
Các Thẩm phán: Ông Mai Văn Quang và ông Nguyễn Văn Phổ.
- Thƣ ký phiên tòa: Ông Dương Tuấn Dũng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nhữ Bá Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 02/7/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 293/2018/TLPT-HS ngày 07/5/2018 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử số 240/2018/QĐXXPT-HS ngày 14/5/2018 đối với bị cáo Trương Đình TH do có kháng cáo của bị cáo, bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 73/2018/HS-ST ngày 29/3/2018 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo: TRƢƠNG ĐÌNH TH, sinh năm 1995; ĐKNKTT: Cụm 13, thôn Vĩnh Ninh, xã VQ, huyện T, thành phố Hà Nội; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trương Đình Hùng và bà Trần Thị Ánh Tuyết; tiền án, tiền sự: Chưa; nhân thân: Quyết định số 7696 ngày 18/12/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà (24 tháng); Bản án số 188/2017/HS-ST ngày 07/9/2017 của Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xử phạt 09 tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/02/2018; bị cáo tại ngoại. Vắng mặt.
Người bị hại có kháng cáo: Anh Bùi Minh TR, sinh năm 1985; trú tại: Thôn Đìa, xã BM, huyện O, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
1/6
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo: Anh Nguyễn Huy H, sinh năm 1985; trú tại: Khu AO, PK, Tổ dân phố 5, phường TV, quận NT, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ ngày 23/04/2017 anh Bùi Minh TR đến nhà anh Nguyễn Huy H tại Tổ dân phố số 5 phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Trong lúc ngồi chơi, anh H nói với TR về việc bị Trương Đình TH lấy trộm chó, đồng thời nhờ TR giúp H đánh Trương Đình TH. TR đồng ý và được H đưa cho 01 chiếc roi sắt dài khoảng 01 mét quấn băng dính và dây cao su màu đen. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Trương Đình TH đi xe môtô Honda Wave màu xanh không biển kiểm soát đến nhà Hưng. Trong lúc TH và H ngồi nói chuyện, anh TR cầm chiếc roi sắt đi đến vung lên đánh TH thì bị TH dùng con dao nhọn đâm 01 phát vào sườn trái; TR dùng roi sắt vụt vào đùi TH thì TH bỏ chạy ra cổng. TR đuổi theo TH nhưng do vết thương chảy máu nhiều nên dừng lại và được H đưa đến Bệnh viện Quân y 103 cấp cứu. Sau khi sự việc xảy ra TH bỏ trốn. Tại Biên bản thương tích ban đầu của TR tại Bệnh viện Quân y 103 được xác định như sau: “01 vết thương vùng mạn sườn trái kích thước 2x3cm, bờ mép sắc gọn, thủng dạ dày, máu chảy rỉ rả lẫn thức ăn và dịch tiêu hóa, không lẫn phân”. Tại Giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện Quân y 103 xác định: “Khoảng 21 giờ ngày 23/4/2017, bệnh nhân bị người khác dùng dao bấm đâm vào vùng mạn sườn trái; sau khi bị đâm thấy phở lòi ra vị trí lỗ vết thương, máu chảy nhiều, tại chỗ không sơ cứu gì, được đưa vào Bệnh viên Xây Dựng sơ cứu sau chuyển B15 - Bệnh viện Quân y 103 điều trị giờ thứ 2 sau tai nạn trong tình trạng: Tỉnh, Glasgrow 15 điểm, không sốt, da niêm mạc nhợt; tim nhịp đều, T1, T2 nghe rõ M: 86ck/p, HA: 130/75mmHg; tự thở, RRFN 2 phổi rõ, không có ran; bụng cứng, phản ứng cơ thành bụng rõ, dấu hiệu Blumberg (+), không có nhu động ruột, không trung tiện được. Tại chỗ: Vùng mạn sườn trái có vết thương KT 3x2 cm, bờ mép sắc gọn, máu chảy rỉ rả kèm theo thức ăn, dịch tiêu hóa, không lẫn phân. Phẫu thuật xử lý tổn thương thấy lỗ thủng bờ cong nhỏ dạ dày kích thước khoảng 1x2cm, máu trào qua vết thương sắc gọn. CT scanner ổ bụng: Hình ảnh tràn dịch ổ bụng mức độ nhiều, tụ khí và dịch trong ổ bụng, dập nhu mô nách;
2/6
siêu âm ổ bụng: ít dịch Douglas và rãnh đại tràng xuống. Đã xử trí: Mổ cắt lọc, mở bụng khâu lỗ thủng dạ dày, lau rửa ổ bụng, dẫn lưu; ra viện ngày 03/5/2017”. Đến ngày 02/6/2017, anh TR tiếp tục đến Bệnh viện Quân y 103 để phẫu thuật do tắc ruột non do dây chằng hình thành dọc theo đường hầm của dẫn lưu cuộc mổ cũ gây xoắn ruột, chưa có hoại tử ruột; ra viện ngày 09/6/2017.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 539/TTPY ngày 26/6/2017 của Trung tâm pháp y Hà Nội xác định tỉ lệ tổn hại sức khỏe của anh Bùi Minh TR tại thời điểm giám định như sau: “Các sẹo vết thương, vết mổ, vết dẫn lưu 10%; thủng dạ dày đã phẫu thuật khâu lỗ thủng 31%; phẫu thuật gỡ dính tắc ruột lần một 21%; nhiều khả năng thương tích do vật sắc gây nên. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe 51%, tính theo phương pháp cộng lùi”.
Tại cơ quan điều tra anh Bùi Minh TR khai được anh Nguyễn Huy H nhờ đánh Trương Đình TH. Khi anh TR cầm roi sắt lên chưa kịp đánh thì bị TH dùng dao nhọn mang theo đâm vào bụng. Sau đó, sợ TH tiếp tục xông vào đánh tiếp nên TR dùng roi sắt đánh vào tay và đùi của TH làm TH bỏ chạy. Anh Nguyễn Huy H khai không nhờ TR đánh TH, cũng không bàn bạc gì trước với TR về việc đánh TH. Trương Đình TH khai khai bị anh TR dùng roi sắt đánh vào tay, đùi trước; sau đó, TH nhặt được một thanh sắt nhọn dài khoảng 20cm ở dưới đất, cạnh vị trí TH đang ngồi đâm vào bụng anh TR; trong quá trình bỏ chạy, TH đã vứt bỏ thanh sắt (không thu hồi được).
Anh Bùi Minh TR yêu cầu Trương Đình TH bồi thường thương tích với tổng số tiền là 231.114.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 73/2018/HS-ST ngày 29/3/2018 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm đã áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Trương Đình TH 06 năm tù về tội "Cố ý gây thương tích"; buộc bị cáo bồi thường 139.999.000 đồng. Ngoài ra bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 02/4/2018, bị cáo Trương Đình TH kháng cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 09/4/2018, bị hại Bùi Minh TR kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Trương Đình TH.
3/6
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 331; 333; điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để chấp nhận các kháng cáo về hình thức; không chấp nhận kháng cáo về nội dung, giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm; cụ thể, áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Trương Đình TH 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án này, các Cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo và bị hại kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã nhiều lần (04 lần) triệu tập và tống đạt hợp lệ đối với bị cáo Trương Đình TH, bị hại Bùi Minh TR và người liên quan Nguyễn Huy H đến tham gia phiên tòa vào các ngày 06/6, 18/6, 26/6 và ngày 02/7/2018 nhưng chỉ có bị cáo Trương Đình TH và anh Nguyễn Huy H có mặt tại phiên tòa vào ngày 06/6/2018; những lần còn lại tất cả đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 351; 352 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định xét xử vắng mặt những người có kháng cáo.
Về nội dung: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 23/4/2017 tại nhà của Nguyễn Huy H ở Tổ dân phố số 5 phường TV, quận NT, thành phố Hà Nội, Trương Đình TH đã có hành vi dùng vật sắc nhọn đâm 01 nhát vào sườn trái làm Bùi Minh TR bị thương và được giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 51%. Hành vi của bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội “Cố ý gây thương tích” và xử phạt tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ Điều 7 về “hiệu lực của bộ luật hình sự năm 2015 về thời gian” và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, thì tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là tội nặng hơn, vì đã bổ sung thêm khung hình phạt và quy định thêm tình tiết định khung mới so với
4/6
Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Trong TR hợp này, Tòa án cấp sơ thẩm phải kết án bị cáo theo khoản 3 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 mới chính xác nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa lại cho đúng.
Xét kháng cáo của bị cáo, bị hại Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong vụ án này, xuất phát từ mâu thuẫn, khúc mắc giữa Nguyễn Huy H và bị cáo Trương Đình TH nên H đã nói, nhờ và đưa chiếc doi sắt cho Bùi Minh TR để TR đánh TH. Tại nhà H, khi bị TR cầm doi sắt vụt, TH đã sử dụng một vật nhọn đâm TR bị thương rồi bỏ chạy. Như vậy, Bùi Minh TR cũng có lỗi là nguyên nhân gây kích động về tinh thần dẫn đến hành vi phạm tội của Trương Đình TH; sau khi phạm tội, bị cáo đã khai báo thành khẩn. Về nhân thân, ngày 07/9/2017, Trương Đình TH đã bị Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xử phạt 09 tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, hành vi này được thực hiện vào ngày 08/9/2016; như vậy, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội lần này thì bị cáo chưa bị Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm kết án nên được coi là chưa có tiền án, tiền sự; bản án sơ thẩm đã nhận định tương tự nhưng phần quyết định lại áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là chưa chính xác. Vì vậy, ngoài tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm e khoản 1 Điều 51 và trên cơ sở đó áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để chấp nhận kháng cáo của Trương Đình TH, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt; và theo đó thì không chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt của bị hại Bùi Minh TR.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo, bị hại không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm, cụ thể:
5/6
- Áp dụng khoản 3 Điều 104; Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999; các điểm e, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Trương Đình TH 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án.
- Bị cáo Trương Đình TH và bị hại Bùi Minh TR không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Hà Nội; - TT Lý lịch tƣ pháp TW-Bộ Tƣ pháp; - VKSND thành phố Hà Nội; - Công an thành phố Hà Nội; - TAND quận Nam Từ Liêm; - VKSND quận Nam Từ Liêm; - Công an quận Nam Từ Liêm; - THADS quận Nam Từ Liêm; - UBND xã VQ, huyện T, Hà Nội; - Ngƣời kháng cáo; - Ngƣời có liên quan đến kháng cáo; - Lƣu HS, VT. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Nam Hà 6/6 |