vanban.org

Bản án 388/2018/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 19/06/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Bị cáo Yao R không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số: 150/2017/HS-PT ngày 22/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Yao R - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Bị cáo Yao R không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 388/2018/HS-PT
Ngày: 19-6-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Duy Nhiệm;

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Xuân Hùng;

Ông Võ Hồng Sơn.

Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Chuyền, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Đinh Trung Quy, Kiểm sát viên.

Ngày 19/6/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 93/2018/TLPT-HS ngày 31/01/2018 do có Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 150/2017/HSST ngày 22/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Bị cáo bị kháng nghị: Yao R; tên phiên âm tiếng Việt Nam: Diêu V, sinh năm 1977 tại Trung Quốc; nơi ĐKNKTT: Diêu Gia T, văn phòng đại diện đường H, thành phố H, tỉnh H, Trung Quốc; nơi ở: Khu du lịch quốc tế P, phường C, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp trước khi bị khởi tố: Nhân viên chia bài Câu lạc bộ khu du lịch quốc tế P; trình độ văn hóa: 10/12; quốc tịch: Trung Quốc; dân tộc: Hán; con ông: Yao Z và bà: Yang L; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/5/2017 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người phiên dịch: Ông Phan Đức Tr, cán bộ Phòng An ninh điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đặng Hồng P, Luật sư Công ty Luật TNHH một thành viên G, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 01 giờ 30 ngày 11/5/2017, Chi cục Hải quan cửa khẩu Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh phát hiện bắt quả tang Yao R (Diêu V) đang có hành vi vận chuyển ma túy qua biên giới; vật chứng thu giữ gồm: Một túi xách màu đen, bên trong có một túi nilon màu trắng có khóa kẹp kích thước (18 x 26) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, khối lượng 982,89 gam; một túi nilon màu trắng kích thước (20 x 30) cm bên trong chứa nhiều túi nilon nhỏ màu xanh hai mặt có chữ Trung Quốc và hình hai con đông trùng hạ thảo, kích thước (6x6)cm, bên trong các túi chứa chất bột màu vàng nhạt, khối lượng 171,86 gam, kết luận giám định là ma túy loại MDMA và Nimetazepam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Yao R khai nhận: Bị cáo là nhân viên Câu lạc bộ khu du lịch quốc tế P, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; tại đây bị cáo thấy nhiều khách hàng người Trung Quốc đến chơi ở sòng bài và hát karaoke có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã về Trung Quốc liên hệ với người đàn ông có số máy điện thoại 00xxxxxxxxxxxx do người bạn tên H giới thiệu để hỏi mua ma túy. Người này hẹn Yao R đến cửa khách sạn V - Đông Hưng, Trung Quốc; tại đây người đàn ông có mang theo 01 kg ketamine, 01 bọc túi “nước vui” đựng ma túy và đã bán số ma túy đó cho Yao R với giá 50.000 Nhân dân tệ. Tuy nhiên, bị cáo chỉ có 10.000 Nhân dân tệ nên H bảo chỉ mua được 100 gam ma túy; Yao R đồng ý mua nhưng bảo H trộn thêm tạp chất vào để làm tăng trọng lượng. Khoảng 0 giờ ngày 11/5/2017, sau khi mua được ma túy Yao R gọi điện cho H chở đò đưa về Việt Nam; khi về đến khu vực trạm kiểm soát Hải quan Móng Cái thì bị lực lượng chức năng kiểm tra bắt giữ người cùng tang vật.

Tại Bản kết luận giám định số 298/GĐMT, ngày 14/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận 982,89 gam là ma túy Ketamine và 171,86 gam là ma túy MDMA và Nimetazepam.

Tại Bản kết luận giám định số 477(TT2) ngày 14/11/2017 của Viện khoa học hình sự, Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an kết luận hàm lượng chất ma túy trong các mẫu gửi tới giám định như sau:

- Các mẫu trong hộp giấy ký kiệu số 01:

+ Mẫu ký hiệu M1 có hàm lượng Ketamine là 5,1%;

+ Mẫu ký hiệu M2 có hàm lượng MDMA là 8,3%.

- Mẫu trong phong bì ký hiệu 02: Mẫu ký hiệu M1 có hàm lượng Ketamine là 5,1%.

- Mẫu trong phong bì ký hiệu 03: Mẫu ký hiệu M2 có hàm lượng MDMA là 8,3%.

- Hiện nay Viện khoa học hình sự chưa có mẫu chuẩn Nimetazepam do đó không xác định được hàm lượng Nimetazepam của mẫu ký hiệu M2 trong các phong bì niêm phong số 01 và 03.

Với nội dung trên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo theo điểm e khoản 4 Điều 194 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 150/2017/HS-ST ngày 22/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã áp dụng điểm đ, m khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 3 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt Yao R 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 11/5/2017.

Ngoài ra Bản án còn xử lý vật chứng, buộc nghĩa vụ nộp án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/01/2018 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh ban hành Kháng nghị số 04; đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm theo hướng áp dụng điểm e khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự và tăng hình phạt lên mức tù chung thân đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội giữ nguyên nội dung kháng nghị;

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh là có căn cứ, vì Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào hàm lượng chất ma túy để xử phạt bị cáo là trái quy định pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng xét xử bị cáo theo điểm e khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự và tăng hình phạt đối với bị cáo.

* Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày bào chữa: Cấp sơ thẩm đã làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo là mua ma túy ở nước ngoài đưa vào Việt Nam bán kiếm lời; do muốn tăng khối lượng nên bị cáo đã trộn ma túy với bột mỳ; cấp sơ thẩm đã giám định hàm lượng và căn cứ vào kết quả giám định để xử phạt bị cáo theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự là phù hợp với Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2017 và Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015. Vì vậy, Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh không có căn cứ, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Yao R đã khai nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai người làm chứng, các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Đặc biệt là kết luận giám định. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 11/5/2017, Yao R mua ma túy từ Trung Quốc đang vận chuyển vào Việt Nam để tiêu thụ thì bị bắt giữ. Hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm được quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội; bị cáo tuy nhận thức rõ được tác hại của chất ma túy, nhưng do hám lời, nhằm kiếm tiền bằng con đường bất hợp pháp nên sẵn sàng thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi đó của bị cáo không những xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội; ma túy là nguồn gốc lây lan các căn bệnh xã hội; là nguyên nhân dẫn đến bao gia đình tan nát và là mầm mống của các loại tội phạm, nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

Xét Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh thấy rằng: Sau khi có kết luận điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã có Bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo; tuy nhiên, do bị cáo Yao R có đơn kiến nghị và xét thấy cần thiết nên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã quyết định trưng cầu giám định hàm lượng chất ma túy là đúng với quy định tại điểm 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2015 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ tư pháp. Căn cứ kết luận giám định thì mặc dù khối lượng chất ma túy bị cáo bị thu giữ gồm 982,98 gam Ketamine, 171,86 gam “Ma túy nước vui và MDMA”, nhưng hàm lượng Ketamine chỉ 5,1% và hàm lượng MDMA chỉ 8,3%. Như vậy, tổng khối lượng Ketamine nguyên chất là 50,13 gam và MDMA nguyên chất là 14,26 gam (tổng các chất ma túy ở thể rắn là 64,39 gam); đối với chất Nimetazepam là chất hướng thần nằm trong Danh mục III, thứ tự 49 của Nghị định 82/2013/NĐ-CP; theo thông tư 08 quy định chất hướng thần phải giám định hàm lượng, nhưng Viện khoa học hình sự Bộ Công an không thể giám định được hàm lượng để xác định khối lượng tinh chất, nên Tòa án cấp sơ đã áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo không tính vào tổng trọng lượng chất ma túy để quy kết trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; bị cáo mua ma túy từ Trung Quốc sau đó vận chuyển qua biên giới vào Việt Nam để tiêu thụ. Vì vậy, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo điểm đ, điểm m khoản 2 là có căn cứ, đúng với quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự, Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015; khi xét xử cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đã xử phạt bị cáo mức án 9 năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật; tại cấp phúc thẩm không có thêm tình tiết gì mới. Vì vậy, Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội không có căn cứ; Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị không chấp nhận Kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ. Vì vậy, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 150/2017/HS-ST ngày 22/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh; áp dụng điểm đ, m khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 3 Điều 52 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Yao R (Diêu V) 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo (11/5/2017).

Về án phí: Bị cáo Yao R không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số: 150/2017/HS-PT ngày 22/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ