vanban.org

Bản án 388/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 388/2018/ HNGĐ-ST
Ngày: 05-10-2018
V/v: Tranh chấp, xin ly hôn
Giữa chị T với anh T

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gốm có:

- Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh

-Các Hôi thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Cư

2. Ông Phạm Hồng Thuận

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Dương Thị Mộng Thu- thư ký Tòa

án nhân dân thị xã Tân Châu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Bảo Thịnh- kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số: 266/2018/TLST – HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 369/2018/ QĐXXST- HNGĐ ngày 29/8/2018 giữa các đương sự :

1. Nguyeân ñôn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Tổ 14, ấp 1, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang ( có mặt);

2. Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: Tổ 14, ấp 1, xã Vĩnh Xương, thị xã tân Châu, tỉnh An Giang ( vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị T đề ngày 21/6/2018, thể hiện như sau:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T với anh Lê văn T yêu nhau được cha mẹ hai bên đồng ý và tổ chức lễ cưới vào năm 2001 nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống có hạnh phúc được 16 năm đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn và mâu thuẫn giữa hai người càng ngày càng lớn và hai người không còn sống

1 chung từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại được. Do đó, chị T xin được ly hôn với anh T.

Về con chung: Theo chị T trong thời gian sống chung với anh T hai người có với nhau hai đứa con chung tên Lê Chiếu H, sinh ngày 20/8/2003 và Lê Bảo B, sinh ngày 26/12/2008 hiện hai cháu đang sống với chị T, khi ly hôn chị T yêu cầu được nuôi cả hai cháu và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Theo chị T thì chị với anh T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Theo chị T thì chị với anh T không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Anh Lê Văn T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh T vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến của mình.

Ý kiến phát biểu của đại diện viện kiểm sát: Về tố tụng Thẩm phán đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án, cho đến khi mở phiên tòa xét xử và tại phiên tòa HĐXX đã thực hiện đầy đủ, đúng theo trình tự thủ tục mà Bộ luật tố tụng dân sự quy định; về nội dung, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ vụ án được công bố thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử ( sau đây gọi HĐXX) xét thấy:

[1]Vê áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án “tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

. Về áp dụng pháp luật nội dung: Sự kiện pháp lý xảy ra, theo đơn khởi của chị Nguyễn Thị T đề ngày 21/6/2018 xin ly hôn với anh Lê Văn T do hai người sống chung với nhau từ năm 2001 vì vậy cần áp dụng Luật hôn nhân gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, Theo biên bản xác minh ngày 21/8/2018 thì anh T hiện nay đang có mặt tại địa phương và còn sống chung nhà với chị T, do anh T cố tình vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luậ tố tụng dân sự.

Về nội dung:

. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T với anh Lê văn T yêu nhau được cha mẹ hai bên đồng ý và tổ chức lễ cưới vào năm 2001 nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống có hạnh phúc được 16 năm đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn và mâu thuẫn giữa hai người càng ngày càng lớn và hai người không còn sống chung đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại được, do đó chị T xin được ly hôn với anh T.

2

Qua trình bày của chị T và biên bản xác minh ngày 21/8/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu ( ông Nguyễn Trung T, phó ấp 1, xã Vĩnh Xương khẳng định chị T với anh T không có đăng ký kết hôn) cho thấy, chị T với anh T tổ chức lễ cưới đến nay thì hai người đã đủ điều kiện để đăng ký kết hôn nhưng do chị T với anh T không đăng ký kết hôn, theo quy định của pháp luật anh chị không có đăng ký kết hôn nên không được pháp luật công nhận. Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì quan hệ giữa chị T với anh T không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Do đó, HĐXX nghĩ nên tuyên bố không công nhận giữa chị T với anh T là vợ chồng là phù hợp quy định của pháp luật .

. Về con chung: Theo chị T trong thời gian sống chung với anh T hai người có với nhau hai đứa con chung tên Lê Chiếu H, sinh ngày 20/8/2003 và Lê Bảo B, sinh ngày 26/12/2008 hiện hai cháu đang sống với chị T, khi ly hôn chị T yêu cầu được nuôi cả hai cháu và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của cháu H và cháu Bảo B cũng được tiếp tục sống với chị T, được thể hiện tại biên bản ghi nhận ý kiến của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu ngày 08/8/2018. Xét thấy yêu cầu này của chị T là chính đáng do đó được HĐXX chấp nhận.

Chị T tự nguyện nuôi con mà không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, sự tự nguyện này của chị T là hợp lý được HĐXX công nhận.

“ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; anh T có quyền đến thăm nom con chung, không ai được cản trở; cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng sấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”

. Về tài sản và nợ chung: Theo chị T thì chị với anh T không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó HĐXX không đặt ra để gải quyết trong bản án này. Sau này nếu anh T cho rằng giữa anh với chị T có tài sản và nợ chung trong thời kỳ hai người chung sống thì anh T vẫn có quyền khởi kiện chị T ra Tòa án để yêu cầu giải quyết trong vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại điểm a khoản 5 Điều 27 nghị Quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án thì chị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0004730 ngày 06/7/2018 của chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Vì các lẽ trên.

QUYEÁT ÑÒNH:

Áp dụng Điều 11,92,93 và Điều 94 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Khỏan 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 4 Ñieàu 147; điểm b khoản 2 Điều 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điểm a khoản 5 Điều 27 nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14

3 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về hôn nhân: không công nhân giữa chị Nguyễn Thị T với anh Lê Văn T là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao hai cháu tên Lê Chiếu H, sinh ngày 20/8/2003 và Lê Bảo B, sinh ngày 26/12/2008 cho chị Nguyễn Thị T được tiếp tục nuôi dưỡng.

Công nhận chị Nguyễn Thị T tự nguyện nuôi con mà không yêu cầu anh Lê Văn T cấp dưỡng nuôi con.

“ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; anh T có quyền đến thăm nom con chung, không ai được cản trở; cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng sấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”

3. Về tài sản và nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Nếu giữa hai người có tranh chấp với nhau về tài sản và nợ trong thời gian chung sống thì anh T vẫn có quyền khởi kiện chị T yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án khác theo quy định của pháp luật;

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0004730 ngày 06/7/2018 của chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị T có quyền kháng cáo. Riêng anh T vắng mặt vẫn được quyền kháng cáo trong hạn trên kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hnah2 án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nôi nhaän:

Cỡ chữ