- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 387/2026/HSST Ngày 19/8/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Thanh Xuân
Ông Nguyễn Văn Đông
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Tuấn Duy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Hà Minh Tuấn - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, địa chỉ Lô HH03 – Khu đô thị Việt Hưng, phố Mai Chí Thọ, phường Việt Hưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 388/2026/HSST ngày 03/8/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 411/2026/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:
Vũ Phạm Minh H, Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1996; CCCD số 001096011437; Nơi sinh: Hà Nội; Nơi thường trú: căn hộ x CT khu nhà ở đài PSPT M, tổ dân phố số x, phường Đ, Thành phố Hà Nội; Nơi ở: số x ngõ y Tân Mai, phường H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Không rõ; Mẹ: Phạm Ngọc D (chết); Vợ, con: Không có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2026, đến ngày 23/5/2026 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: anh Phan Đức T1 và chị Phùng Phương T, sinh năm 2005; Nơi cư trú: số y đường Nguyễn Văn L, phường P, thành phố Hà Nội (Vắng mặt – có đơn xin vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nông Thiên V, Sinh năm: 1996; trú tại: tiểu khu x xã Nà P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên Vũ Phạm Minh H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bằng việc thuê bàn DJ để bán lấy tiền. Ngày 11/5/2026, H đã lên mạng xã hội liên hệ với anh Phan Đức T1 (SN: 2003, Trú tại: Số y đường Nguyễn Văn L, phường P, Hà Nội) để thuê 01 bàn DJ nhãn hiệu Pioneer XDJ- RX3 sản xuất năm 2022 trong thời gian từ ngày 11/5/2026 đến 12/5/2026 với giá 1.000.000đ (một triệu đồng). Do anh T1 có việc không ở nhà nên bảo vợ là chị Phùng Phương T khi nào H đến thì làm hợp đồng và cho thuê bàn DJ nêu trên. Khoảng 21h00 cùng ngày, H đến nhà chị T tại địa chỉ số y đường Nguyễn Văn L, phường P. Tại đây, H ký hợp đồng thuê bàn DJ thời hạn nêu tên. Ngay sau khi nhận được tài sản, H nhắn tin facebook cho bạn là anh Nông Thiên V (Sinh năm: 1996; trú tại: tiểu khu x xã Nà P, tỉnh Thái Nguyên) thỏa thuận bán bàn DJ với giá 33.000.000₫ (Ba mươi ba triệu đồng). Anh V chuyển khoản đặt cọc trước số tiền 2.000.000 đồng cho H và hẹn hôm sau khi nhận được bàn DJ, kiểm tra chất lượng thì thanh toán số tiền còn lại. Khoảng hơn 13h00 ngày 12/5/2026, anh V nhận được bàn DJ và kiểm tra chất lượng. Sau đó, anh V chuyển khoản đến tài khoản ví momo của H số tiền 31.000.000 đồng. H đã tiêu xài cá nhân hết số tiền nhận được.
Ngày 12/5/2026, chị T đòi lại tài sản thì H đề nghị tiếp tục thuê thêm 1 ngày mục đích để kéo dài thời gian vì không có khả năng trả lại bàn DJ. Chị T đồng ý và được H thanh toán 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) qua chuyển khoản. Sau khi hết thời hạn thuê, H chặn liên lạc, không trả lại được tài sản cho chị T, do vậy chị T trình báo sự việc đến Cơ quan công an.
Ngày 19/5/2026, Công an phường Phúc L tiếp nhận đơn trình báo của chị Phùng Phương T (Sinh năm: 2005; trú tại: Số y đường Nguyễn Văn L, phường P, Hà Nội) tố giác đối tượng Vũ Phạm Minh H (Sinh năm: 1996, HKTT: Tổ dân phố số x, phường Đạx, Hà Nội) có hành vi chiếm đoạt tài sản qua hình thức thuê bàn DJ. Cùng ngày, Vũ Phạm Minh H đến Công an phường Phúc L đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng tạm giữ: 01 bàn DJ nhãn hiệu Pioneer XDJ- RX3 sản xuất năm 2022 do anh Nông Thiên V tự nguyện giao nộp.
Tại kết luận định giá tài sản số: 06/KLĐGTS ngày 21/5/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND phường Phúc L kết luận: bàn DJ nhãn hiệu Pioneer XDJ- RX3 sản xuất năm 2022 trị giá 29.000.000 đồng (Hai mươi chín triệu đồng).
Tại bản Cáo trạng số 200/CT-VKSKV5 ngày 28/7/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội truy tố bị cáo Vũ Phạm Minh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như kết luận điều tra của cơ quan điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về quyết định và hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nông Thiên V trình bày tại phiên tòa không biết việc H có được bàn DJ từ việc thực hiện hành vi trái pháp luật, anh đã trả lại bàn DJ cho cơ quan điều tra để trao trả cho bị hại. Tuy nhiên, bị cáo chưa trả cho anh số tiền 33.000.000 đồng là tiền anh mua bàn DJ của bị cáo nên anh đề nghị buộc bị cáo trả lại anh số tiền trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự để tuyên bố bị cáo Vũ Phạm Minh H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và xử phạt bị cáo Vũ Phạm Minh H từ 21 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2026.
- Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại cho anh Nông Thiên V số tiền 33.000.000 đồng.
Bị cáo nói lời sau cùng, đồng ý với lời luận tội của đại diện viện kiểm sát và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Đánh giá về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại là hợp pháp nên Hội đồng xét xử không phải xem xét.
Về việc xét xử vắng mặt bị hại: Người bị hại vắng mặt nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra, đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự, đề nghị vắng mặt tại phiên tòa nên sự vắng mặt của của bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử bị cáo. Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử bị cáo vắng mặt bị hại là phù hợp quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về tội danh:
Ngày 11/5/2026, tại số Số y đường Nguyễn Văn L, phường P, Hà Nội, Vũ Phạm Minh H có hành vi dùng thủ đoạn gian dối là thuê tài sản để chiếm đoạt bàn DJ RX3 của chị Phùng Phương T và anh Phan Đức T1 rồi bán cho anh Nông Thiên V lấy số tiền 33.000.000 đồng tiêu xài hết.
Với giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo kết luận định giá là 29.000.000 đồng, Vũ Phạm Minh H đã phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu cá nhân mà không phải lao động chân chính.
- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo Vũ Phạm Minh H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Khi bị hại làm đơn trình báo, bị cáo đã ra đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và tại đơn xin vắng mặt, bị hại trình bày xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo. Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt.
- Về hình phạt chính:
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù trong khung hình phạt, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhà nước giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về dân sự:
Chị Phùng Phương T đã nhận lại bàn DJ nhãn hiệu Pioneer XDJ- RX3 sản xuất năm 2022, chị T và anh T1 không yêu cầu gì khác về dân sự, Hội đồng xét xử không phải xem xét.
Đối với yêu cầu của anh Nông Thiên V buộc bị cáo trả lại số tiền 33.000.000 đồng: Khi thỏa thuận mua bàn DJ, anh V không biết tài sản do H phạm tội mà có. Sau khi biết hành vi của H, anh V đã mang theo bàn DJ tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an để phục vụ công tác điều tra. Do đó, bị cáo có nghĩa vụ hoàn trả anh Nông Thiên V số tiền 33.000.000 đồng đã nhận của anh V là phù hợp quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự.
- Các vấn đề khác:
Quá trình tiến hành thủ tục đầu thú đối với Vũ Phạm Minh H, Cơ quan Công an đã tiến hành xét nghiệm ma túy đối với H, kết quả mẫu nước tiểu của H dương tính với ma túy Methamphetamine. Tại phiên tòa, H khai bản thân không sử dụng ma túy, không rõ tại sao lại dương tính với ma túy. H không thuộc đối tượng điều trị cai nghiện, quản lý sau cai nghiện. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không làm rõ được hành vi sử dụng trái phép ma túy của H nên không xử lý là có căn cứ.
Đối với hành vi mua bàn DJ của anh Nông Thiên V: Anh V không biết bàn DJ là tài sản do H phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý anh V là có căn cứ.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo có nghĩa vụ trả tiền nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cơ bản phù hợp với kết quả nghị án của Hội đồng xét xử, về mức hình phạt có phần nghiêm khắc, Hội đồng xét xử đã xem xét trong quá trình nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Áp dụng: Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 106, 136, 260, 268, 269, 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự số 99/2026/QH15 ngày 27/6/2026; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Vũ Phạm Minh H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Xử phạt: Vũ Phạm Minh H 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2026.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
Về dân sự: Buộc bị cáo phải trả cho anh Nông Thiên V số tiền 33.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ và án phí dân sự sơ thẩm là 1.650.000 đồng.
Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - VKS nhân dân khu vực 5 Hà Nội; - VKS nhân dân thành phố Hà Nội; - Cơ quan điều tra, công an thành phố Hà Nội; - Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hương |