- Tranh chấp gì? án hình sự — "lê văn thanh - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (H1) năm tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 387/2025/HS-ST Ngày 30 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa
2/ Ông Trần Công Danh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Uyên San – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 397/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 391/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:
Lê Văn T, sinh năm 1995 tại tỉnh Thanh Hóa; HKTT; Thôn G, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ điện; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H, sinh năm 1964 và bà Đỗ Thị L, sinh năm 1969; có vợ tên Đồng Thị N, sinh năm 1999, bị cáo có 01 con sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị giam, giữ tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ từ ngày 16/12/2024 (Có mặt).
- Người làm chứng:
1/ Ông Phạm Quốc T1, sinh năm 1996;
2/ Anh Nguyễn Đình Thiên P, sinh năm 2003;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 16/12/2024, Lê Văn T được một người đàn ông tên thường gọi là Đ (không rõ nhân thân lai lịch) sử dụng số điện thoại 0898801107 thuê chở 02 thùng hàng là pháo hoa nổ với giá vận chuyển là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) từ khu vực ngã tư E thuộc thành phố T, tỉnh Bình Dương đến đoạn đường thuộc tổ C, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để giao cho khách đặt mua hàng theo chỉ dẫn của Đ thì được T đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày T sử dụng xe mô tô biển số 36B7-434.06 của mình để vận chuyển 02 thùng pháo hoa nổ theo thoả thuận giữa T và Đ đến địa chỉ trên thì bị lực lượng tuần tra Công an phường T, thành phố B kiểm tra phát hiện và lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B theo thẩm quyền.
- Vật chứng thu giữ:
- 18 (mười tám) hộp pháo loại 49 ống/hộp, có ký hiệu KS4-4911; 12 (mười hai) hộp pháo loại 49 ống/hộp, có ký hiệu KS4-4910, là vật chứng của vụ án, chuyển Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đ để giải quyết theo quy định.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 36B7-434.06, dung tích xi lanh 109,2 cm3, số máy: JA52E0043023, số khung: RLHJA385XKY016956 mang tên Lê Văn T; 01 điện thoại di động Iphone 12, số thuê bao 0877287118, số imel 35971039573744, là phương tiện, công cụ phạm tội. Đã xác minh làm rõ là của Lê Văn T, chuyển Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà để giải quyết theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 7769/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- 18 (mười tám) khối hình hộp chữ nhật, kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều sắc có ký hiệu KS4-4911, bên trong mỗi khối có chứa 49 ống gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khối lượng 29,5kg;
- 12 (mười hai) khối hình hộp chữ nhật, kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều sắc có ký hiệu KS4-4910, bên trong mỗi khối có chứa 49 ống gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khối lượng 17,6kg.
Tại bản Cáo trạng số: 415/CT-VKSBH ngày 12/6/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Vận chuyển hàng cấm”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với người tên Đ sử dụng số điện thoại 0898801107 (là người thuê T vận chuyển pháo hoa nổ), qua xác minh có tên là Trần Thanh T2, sinh ngày 02/02/1994, nơi cư trú: xã M, huyện T, tỉnh Long An. Đã xác minh, hiện tại T2 không có mặt tại địa phương nơi cư trú nên chưa làm việc được. Cơ quan điều tra đã có Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai bổ sung phần lý lịch của bị cáo, bị cáo Lê Văn T có 01 con tên Lê Văn Nhật Q, sinh năm 2021 và phần vật chứng giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đ xử lý đối với số pháo nổ còn lại sau giám định, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt:
- Bị cáo Lê Văn T mức án từ: 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà tuyên:
- Tịch thu tiêu huỷ: 15 (mười năm) khối hình hộp, kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài dán giấy nhiều sắc, ghi ký hiệu KS4-4911; 10 (mười) khối hình hộp, kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài dán giấy nhiều sắc, ghi ký hiệu KS4-4910 (là mẫu vật còn lại sau quá trình giám định, đã được niêm phong); 01 (một) thẻ sim có số thuê bao 0877287118 (là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng).
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 36B7-434.06, dung tích xi lanh 109,2 cm3, số máy: JA52E0043023, số khung: RLHJA385XKY016956; 01 (một) điện thoại di động Iphone 12, số imel 35971039573744 (là phương tiện, công cụ phạm tội còn giá trị sử dụng).
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với qui định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng, và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; qua đó đã có căn cứ để kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 16/12/2024, tại tổ C, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lê Văn T có hành vi vận chuyển hàng cấm là pháo hoa nổ, có tổng trọng lượng là 47,1kg thì bị Công an phường T, thành phố B phát hiện bắt quả tang. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo Lê Văn T đã phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước cấm tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn T phải bị xử phạt nghiêm để nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo phải chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục cho người khác phải có ý thức tuân thủ pháp luật, góp phần vào công tác ngăn ngừa, phòng chống tội phạm chung.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó, bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ: 15 (mười năm) khối hình hộp, kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài dán giấy nhiều sắc, ghi ký hiệu KS4-4911 và 10 (mười) khối hình hộp, kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài dán giấy nhiều sắc, ghi ký hiệu KS4-4910 (là mẫu vật còn lại sau quá trình giám định, đã được niêm phong); 01 (một) thẻ sim có số thuê bao 0877287118.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 36B7-434.06, dung tích xi lanh 109,2 cm3, số máy: JA52E0043023, số khung: RLHJA385XKY016956; 01 (một) điện thoại di động Iphone 12, số imel 35971039573744 ).
Đối với người tên Đ, qua xác minh có tên là Trần Thanh T2, sinh ngày 02/02/1994, nơi cư trú: xã M, huyện T, tỉnh Long An, sử dụng số điện thoại 0898801107 (là người thuê T vận chuyển pháo hoa nổ). Đã xác minh, hiện tại T2 không có mặt tại địa phương nơi cư trú nên chưa làm việc được. Cơ quan điều tra đã có Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1 Điều 51, của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (H1) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16 tháng 12 năm 2024.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu huỷ: 15 (mười năm) khối hình hộp, kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài dán giấy nhiều sắc, ghi ký hiệu KS4-4911; 10 (mười) khối hình hộp, kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài dán giấy nhiều sắc, ghi ký hiệu KS4-4910 (là mẫu vật còn lại sau quá trình giám định, đã được niêm phong);
(Vật chứng trên đang tạm giữ tại Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/6/2025)
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) thẻ sim có số thuê bao 0877287118.
(Vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/6/2025).
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 36B7-434.06, dung tích xi lanh 109,2 cm3, số máy: JA52E0043023, số khung: RLHJA385XKY016956; 01 (một) điện thoại di động Iphone 12, số imel 35971039573744.
(Vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/6/2025).
3. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- TAND tỉnh Đồng Nai;
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- VKSND TP. Biên Hòa;
- CATP. Biên Hòa;
- THADS TP. Biên Hòa;
- Lưu hồ sơ.
Trần Thị Hải
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND TP. Biên Hòa; - CATP. Biên Hòa; - THADS TP. Biên Hòa; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hải |