- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hữu Nh.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 387/2022/HNGĐ-ST Ngày: 31-5-2022 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hồng Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Á
2. Bà Phạm Hoàng Diễm My
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 31 tháng 5 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2021/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2021 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu Nh, sinh năm 1982, địa chỉ: Tổ x, khu phố D, phường TB, thị xã H, tỉnh B (Đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Bích G, sinh năm 1989, địa chỉ: Tổ x, khu phố D, phường TB, thị xã H, tỉnh B (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
+ Tại đơn khởi kiện ngày 08/12/2021, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Hữu Nh trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị G đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) TB ngày 22/02/2016. Chị G đã bỏ nhà đi từ tháng 9 năm 2021, không còn tình cảm gì với anh. Nay tình cảm vợ chồng không còn, nên anh Nh yêu cầu ly hôn chị G.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Nhật Q sinh ngày 26/12/2017. Khi ly hôn chị G nuôi con, anh Nh không cấp dưỡng cho con.
Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết.
+ Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Nguyễn Thị Bích G không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của anh Nh, không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập, thông báo và giấy báo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn và giải quyết về con chung khi ly hôn nên theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ pháp luật được xác định là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại: Tổ x, khu phố D, phường TB, thị xã H, tỉnh B nên theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định có thẩm quyền giải quyết vụ án.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Nh đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị G đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Theo qui định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Qua xác minh, Công an phường TB, thị xã H đã cung cấp Thông báo số định danh cá nhân của chị G, theo đó, chị G có hộ khẩu thường trú tại: Tổ x, khu phố D, phường TB, thị xã H, tỉnh B, không có thông tin, tài liệu thể hiện đã chuyển khẩu đi nơi khác và nơi cư trú hiện nay của chị G. Vì chị G thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, không rõ khi nào trở về nên Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng để chị G biết và thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Trong thời gian giải quyết vụ án, chị G không nộp văn bản ghi ý kiến của mình, không chấp hành việc triệu tập của Tòa án. Do đó, Tòa án không lấy ý kiến của chị G liên quan đến yêu cầu của anh Nh được. Chị G không có ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo qui định của pháp luật nên phải chịu trách nhiệm cho việc không thực hiện quyền và nghĩa vụ. Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo qui định của pháp luật.
Về hôn nhân: Chị G đã bỏ nhà đi, không còn chung sống với anh Nh từ tháng 9 năm 2021, vợ chồng đã không còn quan tâm gì đến nhau. Trong thời gian Tòa án giải quyết ly hôn, chị G cũng không quay về chung sống với anh Nh, vợ chồng cũng không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm. Có thể thấy, hôn nhân giữa anh Nh và chị G đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho anh Nh ly hôn chị G.
Việc nuôi con sau khi ly hôn: Khi bỏ đi không chung sống với anh Nh, chị G đã đưa con chung đi cùng, chăm sóc nuôi dưỡng. Vì vậy, tiếp tục giao cháu Quân cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị G không có ý kiến, yêu cầu gì về việc cấp dưỡng cho con, anh Nh cũng không tự nguyện cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản: Không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Theo qui định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án thì anh Nh phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hữu Nh. Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Hữu Nh và chị Nguyễn Thị Bích G.
2. Về nuôi con: Giao cháu Nguyễn Nhật Q sinh ngày 26/12/2017 cho chị Nguyễn Thị Bích G trực tiếp nuôi dưỡng.
3. Về cấp dưỡng cho con: Không có yêu cầu nên không xem xét.
4. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng cho con theo qui định của pháp luật.
5. Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết.
6. Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Hữu Nh phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh Nh đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001721 ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định nên được khấu trừ, anh Nh đã nộp xong.
7. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
8. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thị xã Hoài Nhơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hồng Hoàng |