- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hình sự sơ thẩm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1].Căn cứ vào:Khoản 1 Điều 173, điểm i,s khoản 1 Điều 51, ,Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 387/2021/HSST Ngày27 tháng 8năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Minh Hải
Các hội thẩm nhân dân: 1.Ông Phạm Lành
2.Bà Nguyễn Thị Thuý Mai
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thuỳ Dương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Nhung, Kiểm sát viên.
Ngày27 tháng 8 năm 2021, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số411/2021/HSSTngày 05tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số411/2021/QĐXXST-HS ngày 13tháng 8năm 2021đối với bị cáo:
Họ và tên:Phạm Trung K, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 16/5/1998; Nơi đăng ký HKTT:Thôn Liên Đông, Xã Hồng Quang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương;Nghề nghiệp:Không;Trình độ văn hóa:12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: N; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt N; Con ôngPhạm Văn Thái (Đã chết); Con bà:Vũ Thị Thêm (Đã chết); Vợ, con: Chưa có;Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt hành chính số 0122007 ngày 20/7/2021 của Công an thành phố Thái Nguyên, xử phạt K số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” ngày 21/5/2021 tại tổ 10, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/5/2021 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên toà).
* Bị hại:
1.Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1986, trú tại: Xóm N, xã L,thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
2.Anh Nông Văn D, sinh năm 1989, Tổ 20, phường P,thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Người làm chứng: Ông Phạm Văn Kh, sinh năm 1963, trú tại: Tổ 10, phường Hoàng Văn Thụ, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.(vắngmặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 13/5/2021, Phạm Trung K một mình đi bô ̣ đến mô ̣t cửa hàng bán xe máy trên đường Bắc Sơn lấy được mô ̣t chiếc thang tre dài khoảng 6m, sau đó mang đến trước nhà ông Pha ̣m Văn Khuê (sinh năm 1963, HKTT: Tổ 16, phường Hoàng Văn Thụ , thành phố Thái Nguyên , với mục đich để trô ̣m cắp tài sản . Do căn nhà của ông Khuê đang xây thêm tầng 2
́ và tầng 3 nên không có cửa, K đa dựng thang lên bờ bê tông tẫ
̀ng hai rồi trèo lên mục đích tim tài sản để trô ̣m cắp . Do trời tối , nên K đã dùng bật lửa chuẩn
̀ bị trước, đốt miếng xốp có sẵn ta ̣i đó lấy ánh sáng tim tài sản . Sau khi tim tầng 2
̀
̀ không thấy có tài sản gì, K đi lên tầng 3 thấy 02 (hai) máy đục bê tông, 02 (hai) máy cắt cầm tay , 01 (mô ̣t) máy khoan bê tông là tài sản của anh Nông Văn D (Sinh năm 1989, HKTT: Tổ 20, phường Phan Đinh Phùng , thành phố Thái
̀ Nguyên) và 01 (mô ̣t) máy cắt ga ̣ch, 01 (mô ̣t) máy khoan bắn vít , 01 (mô ̣t) máy cắt cầm tay là tài sản của anh Nguyễn Văn N (Sinh năm 1986, HKTT: Xóm Ngọc Lâm, xã Linh Sơn , thành phố Thái Nguyên ). Anh D và anh N hiê ̣n đang thi công xây dựng nhà cho ông Khuê . Sau khi phát hiê ̣n thấy tài sản , K chuyển làm 03 lượt xuống đất, trong đó 05 máy để trong bao tải , 03 máy K cầm ở tay. Sau khi lấy được tài sản, K khai mang đến cửa hàng mua bán phế liê ̣u thuô ̣c tổ 16, phườngHoàng Văn Thụ , thành phố Thái Nguyên bán cho anh Nguyễn Văn Phẩm (Sinh năm 1975) và vợ là chị Nguyễn Thị Chung (Sinh năm 1974), cùng HKTT: Thôn Thu Thủy , xã Sơn Thu , huyê ̣n Sóc Sơn , thành phố Hà Nô ̣i , được số tiền 600.000 đồng. Số tiền này K đa sử dụng để tiêu xã
̀i cá nhân hết .
Sau khi phát hiện mất tài sản, anh Nông Văn D và Nguyễn Văn N đã đến Công an phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên trình báo.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 173 ngày 6/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Thái Nguyên kết luận giá trị của các tài sản như sau:01 (mô ̣t) máy đục bê tông , màu nâu , nhãn hiệu KinKo , đa qua sử dụng, máy vẫñ hoạt động bình thường, có giá trị là 450.000 đồng; 01 (mô ̣t) máy đục bê tông , màu xanh , nhãn hiệ u Hugong, đa qua sử dụ̃
ng , máy vẫn hoạt động bình thường, có giá trị là 450.000 đồng; 02 (hai) máy cắt cầm tay , màu xanh , nhãn hiệu DongCheng, công suất 750W, đa qua sử dụ̃
ng , máy vẫn hoạt động bình thường, có giá trị là 350.000 đồng; 01 (mô ̣t) máy khoan bê tông, màu đỏ, nhãn hiệu Kintec, đa qua sử̃
dụng, máy vẫn hoạt động bình thường, có giá trị là 500.000 đồng; 01 (mô ̣t) máy cắt gạch , màu xanh , nhãn hiệu Dekton (100mm Dekton ), công suất 1400W, đa qua sử dụng, máy vẫn hoạt động bình̃ thường, có giá trị là 350.000 đồng;01 (mô ̣t) máy khoan bắn vít nhãn hiệu MartecMT605, công suất 450W, chưa qua sử dụng, máy vẫn hoạt động bình thường, có giá trị là 250.000 đồng; 01 (mô ̣t) máy cắt cầm tay , màu xanh (không rõ nhãn hiệu , công suất ), đa qua sử dụ̃
ng , máy vẫn hoạt động bình thường. Hội đồng định giá tài sản từ chối định giá do không xác định được thông số kỹ thuật, không có hóa đơn chứng từ mua bán, không có tài sản tương tự để đối chiếu. Tổng giá trị các tài sản trên là 2.350.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Trung K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Lời khai nhận của K phù hợp lời khai người bị hại, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, dữ liệu Camera nơi xảy ra vụ trộm cắp tại nhà ông Phạm Văn Khuê và các tài liệu khác thu thập trong hồ sơ vụ án .Trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra anh Nông Văn D yêu cầu bồi thường số tiền 1.400.000 đồng; anh Nguyễn Văn N yêu cầu bồi thường số tiền 1.600.000 đồng. Hiện K chưa bồi thường được.
Vật chứng của vụ án là: 01 (mô ̣t) máy đục bê tông , màu nâu , nhãn hiệu KinKo, đa qua sữ
̉ dụng , máy vẫn hoạt động bình thường;01 (mô ̣t) máy đục bê tông, màu xanh , nhãn hiê ̣u Hugong , đa qua sữ
̉ dụng ; 02 (hai) máy cắt cầm tay , màu xanh , nhãn hiê ̣u DongCheng , công suất 750W, đa qua sữ
̉ dụn g; 01 (mô ̣t) máy khoan bê tông, màu đỏ, nhãn hiê ̣u Kintec , đa qua sữ
̉ dụng; 01 (mô ̣t) máy cắt gạch, màu xanh , nhãn hiệu Dekton (100mm Dekton), công suất 1400W, đa quã sử dụng; 01 (mô ̣t) máy khoan bắn vít nhãn hiệu MartecMT 605, công suất 450W, chưa qua sử dụng ; 01 (mô ̣t) máy cắt cầm tay , màu xanh (không rõ nhan hiê ̣̃
u , công suất ), đa qua sữ
̉ dụng ; 01 thang tre, dài khoảng 6m, đã qua sử dụng; 01 chiếc bật lửa đã qua sử dụng.Hiê ̣n những tài sản trên không thu hồi được.01 đôi dép màu đỏ, trên mỗi dép đều in 2 hình tam giác màu đen và ghi chữ “POPULAR”. Hiện được chuyển đến bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên .
Tại bản Cáo trạng số 423/CT-VKSTPTN ngày 04 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố Phạm Trung K về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tạikhoản 1Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Trung Kkhai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật,bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Những người bị hại chưa được nhận lại tài sản yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị tài sản theo kết luận định giá của cơ quan chức năng.
Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyêngiữ quyền công tố đã trình bày bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Phạm Trung Kphạm tội:“Trộm cắp tài sản”.
*Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểmi,s khoản 1 Điều 51,Điều 38Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Phạm Trung Ktừ 09đến 12tháng tù. Thời hạn tù tính từ23/5/2021
* Hình phạt bổ sung:Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáokhai không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sunglà hình phạt tiềnđối vớibị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phạm Trung Kcó trách nhiệm bồi thường cho các bị hại là Nguyễn Văn N và Nông Văn Dtheo quy định của pháp luật. * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đôi dép màu đỏ, trên mỗi dép đều in hai hình tam giác màu đen và ghi chữ “ POPULAR”, đã qua sử dụng.
* Về án phí và quyền kháng cáo:Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước; Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáobản án theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luậnbị cáoPhạm Trung K: Không đối đáp, tranh luận. Nhất trí với nội dung bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát,thừa nhận việc truy tố xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: [1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra , Điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyêntrong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòabị cáovà những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiếnhoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, tuy nhiên Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa đối với anh D, anh N,tuy nhiên anh D, anh Nđều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa, anh D, anh N yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị tài sản theo giá của Hội đồng định giá, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội, không oan. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án như: biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luậnđịnh giá. Như vậy, Hội đồng xét xửcó đủ cơ sở để xác định:Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 13/5/2021, tại khu vực nhà đang xây của ông Phạm Văn Khuê ở tổ 10, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, Phạm Trung K có hành vi lén lút trộm cắp 01 (mô ̣t) máy đục bê tông, màu nâu, nhãn hiệu KinKo ; 01 (mô ̣t) máy đục bê tông, màu xanh , nhãn hiệu Hugong ; 02 (hai) máy cắt cầm tay , màu xanh, nhãn hiệu DongCheng ; 01 (mô ̣t) máy khoan bê tông, màu đỏ, nhãn hiệu Kintec của anh Nông Văn D có tổng giá trị là 1.750.000 đồng; 01 (mô ̣t) máy cắt gạch, màu xanh , nhãn hiệu Dekton (100mm Dekton ); 01 (mô ̣t) máy khoan bắn vít nhãn hiệu MartecMT 605 có tổng giá trị 600.000 đồng; 01 (mô ̣t) máy cắt cầm tay, màu xanh (không rõ nhan hiê ̣̃
u , công suất) nên không định giá được của anh Nguyễn Văn N. Tổng giá trị các tài sản trên là 2.350.000 đồng. Hiện số tài sản trên không thu hồi được.
Phần dân sự: Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 25/8/2021 anh Nông Văn D và anh Nguyễn Văn N đều yêu cầu bị cáo Phạm Trung K bồi thường giá trị tài sản bị mất theo kết luận định giá tài sản.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc trong dư luận.
Như vậy với hành vi nêu trên của bị cáoPhạm Trung Kđã đủ yếu tố cấu thành tội:“Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác tri ̣ giá từ
2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ06 tháng đến 03 năm”. [4]. Bản cáo trạng số: 423/CT-VKSTPTN ngày 04/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phạm Trung Kvề tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [5] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng,hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ và bị pháp luật nghiêm cấmnhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi với lỗi cố ý, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi cá nhân muốn có tiền để tiều xài nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội, hành vi này phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có mức hình phạt tương xứng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. [7] Về hình phạt: Sau khi xét hành vi, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng cần áp dụng hình phạt tù để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, cũng như đảm bảo tính chất ngăn ngừa tội phạm nói chung. Xét thấy mức án đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị là có phần nghiêm khắc.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo còn có thể bị xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiềntheo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, hiện không có tài sản gì, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản của các bị hại Nông văn D, Nguyễn Văn N hiện chưa thu hồi được, các bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại theo giá trị đã được Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự định giá. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của các bị hại là phù hợp, do đó cần buộcbị cáo Phạm Trung K phải bồi thường cho anh Nông Văn D, sinh năm1989, ĐKHKTT :Tổ 20, phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyêngiá trị 01 (mô ̣t) máy đục bê tông, màu nâu, nhãn hiệu KinKo , đa qua sử dụng, máỹ vẫn hoạt động bình thường là 450.000đ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng); 01 (mô ̣t) máy đục bê tông, màu xanh, nhãn hiệu Hugong , đa qua sử dụ̃
ng , máy vẫn hoạt động bình thường là 450.000đ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng); 02 (hai) máy cắt cầm tay , màu xanh , nhãn hiệu DongCheng , công suất 750W, đa qua sử̃ dụng, máy vẫn hoạt động bình thường là 350.000đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng); 01 (mô ̣t) máy khoan bê tông, màu đỏ, nhãn hiệu Kintec , đa qua sử dụng,̃ máy vẫn hoạt động bình thường là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng); Buộc bị cáo Phạm Trung K phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1986, HKTT: Xóm Ngọc Lâm, xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giá trị01 (mô ̣t) máy cắt gạch , màu xanh , nhãn hiệu Dekton (100mm Dekton), công suất 1400W, đa qua sử dụng, máy vẫn hoạt động bình thường̃ là 350.000đ(Ba trăm năm mươi nghìn đồng) và giá trị 01 (mô ̣t) máy khoan bắn vít nhãn hiệu MartecMT 605, công suất 450W, chưa qua sử dụng, máy vẫn hoạt động bình thườnglà 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng). [9] Về vật chứng của vụ án:Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đôi dép màu đỏ, trên mỗi dép đều in hai hình tam giác màu đen và ghi chữ “ POPULAR”, đã qua sử dụng. [10] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáophải chịu án phí hình sự sơ thẩmvà án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác:Đối với Nguyễn Văn Phẩm, Nguyễn Thị Chung theo K khai nhận là chủ quán mua phế liệu mà K mang đồ trộm cắp được đến bán, tuy nhiên Phẩm và Chung không nhận mua bán với K nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có căn cứ để xử lý; Ngoài ra, K còn khai đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại một số công trình xây dựng nhà ở và nhà hàng 1983. Quá trình điều tra xác định các vụ trộm cắp trên thuộc địa bàn phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, đến nay chưa xác định được các bị hại do vậy sẽ tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
[1].Căn cứ vào:Khoản 1 Điều 173, điểm i,s khoản 1 Điều 51, ,Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt:Phạm Trung K08(tám)tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo 23/5/2021.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
[2].Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. [3].Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Các Điều 584, Điều 585, Điều 589, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự;
- Buộc bị cáo Phạm Trung Kphải bồi thường giá trị tài sản trộm cắp không thu hồi được cho anh Nông Văn D, sinh năm1989, ĐKHKTT:Tổ 20, phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên là 1.750.000đ (Một triệu bẩy trăm năm mươi nghìn đồng)
- Buộc bị cáo Phạm Trung K phải bồi thường giá trị tài sản trộm cắp không thu hồi đượccho anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1986, HKTT: Xóm Ngọc Lâm, xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên là 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng)
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không tự nguyện thi hành số tiền trên, thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong. Mức lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền chậm trả. Trường hợp không thỏa thuận được về lãi suất chậm trả thì được xác định bằng 50% của mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. [4].Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đôi dép màu đỏ, trên mỗi dép đều in hai hình tam giác màu đen và ghi chữ “ POPULAR”, đã qua sử dụng. (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 537ngày 04/8/2021 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên). [5].Về án phí:Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Trung K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách sách nhà nước; [6].Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo,báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Công an TP. Thái Nguyên; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên; - THA phạt tù; - Bị cáo; Bị hại; - UBND xã Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, TP.Hà Nội. - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Minh Hải |