vanban.org

Bản án 386/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 19/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Đ V H.

Tuyên bố các bị cáo: Đ V H và N H A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt: Đ V H 04 (bốn) tháng 14 (mười bốn) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 05/4/2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đ V H - Gây rối trật tự công cộng - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Đ V H.
  • Căn cứ chính? Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HÀ NỘI.
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 386/2026/HS-ST
Ngày 19 -8- 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hà Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà: Nguyễn Thị Hà

Ông: Nguyễn Xuân Luyện

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Vân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Vũ Thị Nhiên - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 383/2026/TLST-HS, ngày 29 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 388/2026/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2026/HSST-QĐ ngày 14 tháng 8 năm 2026, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đ V H, sinh ngày 15/8/2007 tại Hà Nội; Căn cước công dân số: 001207017184; Nơi thường trú và nơi ở: số nhà 01, ngõ 39, phố Tư Đình, tổ 28, phường L, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đ Đ H1, sinh năm 1973 và bà N T A1, sinh năm 1984; Vợ, con: không có; Tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 05/4/2026 đến ngày 11/4/2026 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện tạm giam tại phân trại tạm giam V – Công an thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: N H A, sinh ngày 13/9/2005 tại Hà Nội; Căn cước công dân số: 001305004210; Nơi thường trú: P708 – K4 khu đô thị V, phường V, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông N N T, sinh năm 1969 và bà N T H L, sinh năm 1976; Chồng, con: không có; Tiền án, tiền sư: không có; Nhân thân: Ngày 19/10/2025, Công an thành phố Hà Nội ra Quyết định khởi tố N H A về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo bắt tạm giam ngày 12/6/2026, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. (có mặt tại phiên tòa).

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà L T K, sinh năm 1980;

- Anh Đ T A2, sinh ngày 20/6/2009;

Người đại diện hợp pháp của anh Tuấn Anh: ông Đ Đ T, sinh năm 1979 và bà L T K, sinh năm 1980 (là bố mẹ đẻ của anh Tuấn Anh)

Đều có địa chỉ: Tổ 12, phường L, thành phố Hà Nội.

- L H B, sinh ngày 06/7/2009;

Người đại diện hợp pháp của anh B: ông L H P, sinh năm 1990 và bà H T H Y, sinh năm 1989 (là bố, mẹ của anh B).

Địa chỉ: Số 9 ngõ 38/39 phố Đ, tổ 28, phường L, thành phố Hà Nội.

(Đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 01/4/2026, T T A3 (sinh ngày 05/3/2009, tức 17 tuổi 5 tháng 7 ngày), trú tại: Tổ 2 phường Phúc Lợi, Hà Nội; N H A; N H M (sinh ngày 26/06/2010, tức 15 tuổi 09 tháng 6 ngày) trú tại: Tố 16, L, Hà Nội; V Đ B1 (sinh ngày 23/08/2010, tức 15 tuổi 7 tháng 9 ngày) trú tại: Tố 8, L, Hà Nội; B M B (sinh ngày 23/09/2008, tức 17 tuổi 6 tháng 09 ngày) trú tại: Tổ 16, phường L, Hà Nội; T H K(sinh ngày 25/10/2008, tức 17 tuôi 5 tháng 7 ngày), trú tại: Tổ 3 cụm Đức Giang, phường V, Hà Nội; B Q A4 đến quán bia Cây Sung ở phường V để tổ chức chia tay T T A3 đi chấp hành án tội gây rối trật tự công cộng cùng bạn của Tuấn Anh. Sau khi ăn uống xong khoảng 23 giờ cùng ngày cả nhóm rủ nhau đi xe máy dạo phố, trong đó có:

- T T A3 điều khiển xe máy Wave BKS 29K1 - 941.95 (xe của Minh) chở người yêu là N H A.

- N H M điều khiển xe Vision màu đen BKS 29Y7 - 718.89 (xe của Hồng Anh) chở B M B.

- V Đ B1 điều khiển xe Wave màu trắng BKS 29BH - 106.14 chở Tạ Huy Khánh.

- B Q A4 đi xe Vision màu đỏ BKS 29Y7 - 404.69 đi một mình.

Cả nhóm cùng nhau đi qua nhiều tuyến đường, khi đến ngã tư Thanh Am bị hai nam thanh niên (không rõ tên tuổi địa chỉ) đi xe máy chửi nhưng không xảy ra đánh nhau. Cả nhóm tiếp tục đi vào đường Lưu Khánh Đàm - Mai Chí Thọ

- Vincom - Chu Huy Mân - Đàm Quang Trung - Cổ Linh - Hồng Tiến. Lúc này xe của B Q A4 sắp hết xăng nên Quỳnh Anh bảo cả nhóm đi đồ xăng ở cây xăng Nguyễn Sơn. Khi đến cây xăng, V Đ B1 đi xe máy của Quỳnh Anh vào đố xăng, những người còn lại đợi ở ngoài. Khánh 1 mình đi bộ ra khu vực quán bia gần cây xăng lấy 02 vỏ chai bia loại chai Tiger bạc cất giấu vào túi áo trong người, không ai biết và đi ra chỗ V Đ B1 đang đổ xăng nói về việc lấy được vỏ chai bia nếu bị nhóm chửi lúc trước đánh thì sẽ đánh lại thì V Đ B1 đồng ý. Những người còn lại trong nhóm không biết việc Khánh đi lấy vỏ chai bia cất giấu trong người.

Sau đó cả nhóm tiếp tục đi ra đường Nguyễn Văn Cừ - Ngô Gia Tự - Nguyễn Cao Luyện - Lưu Khánh Đàm - Mai Chí Thọ gặp Đ V H đi xe máy hiệu Honda Vision một mình. Khi thấy Hoàng, B M B chửi "địt mẹ mày" thì Hoàng quay xe lại nói "mày vừa chửi ai đấy" thì N H M chở B M B nhận ra Hoàng là người quen nên xin lỗi và Hoàng bỏ qua. Trên đường đi Minh kể cho Hoàng về việc vừa có nhóm chửi nhóm của Minh. Lúc này Hoàng cũng đi cùng nhóm của Minh. Khi cả nhóm đang đi thì thấy anh Đ T A2 đi xe máy Honda Wave Alpha màu đen, BKS 38 AP - 022.89 chở anh L H B đi vượt lên rồi quay lại nhìn. V Đ B1 nghe thấy có người trong nhóm không rõ là ai nói "chúng nó chửi kìa" thì Hoàng hỏi Minh có biết kia là nhóm nào không nhưng Minh không biết. Sau đó Hoàng nói với mọi người trong nhóm Minh "thế thì đuổi theo đi" thì có xe của N H M chở B M B, xe của V Đ B1 chở Khánh nghe thấy. Xe của V Đ B1 chở T H Kđuổi đầu tiên, xe Đ V H đuổi thứ hai, xe của N H M chở B M B đuổi thứ ba, xe T T A3 chở N H A và xe của B Q A4 đi sau cùng cũng phóng theo để bám theo đoàn. Quá trình đuổi nhau từ đoạn vòng xuyến Vincom L những người điều khiển xe đều đi với tốc độ cao khoảng 60 - 70 km/h, bấm còi, vượt đèn đỏ, không đội mũ bảo hiểm. Khi xe của Minh chở B M B, xe của T T A3 chở N H A và xe của B Q A4 đi đến đoạn gần cầu vượt Aeon L (đuổi được khoảng 3,5 km) thì không đuổi kịp xe của V Đ B1 chở Khánh và xe của Đ V H. Xe của V Đ B1 và Đ V H đuổi sát xe của anh Đ T A2 chở L H B. Khi đến chân cầu Vĩnh Tuy thì xe của anh Đ T A2 rẽ đi ra hướng đê L. Do bị đuổi nên xe của anh Đ T A2 phóng nhanh đến đoạn vòng cua thì mất lái và bị ngã rê trên đường, va vào vỉa hè. Lúc này xe của V Đ B1 chở Khánh, xe của Hoàng đuổi đến. T H Kvẫn ngồi sau xe V Đ B1 chửi "địt mẹ mày" và rút vỏ chai bia giấu trong người ra ném về phía anh L H B và anh Đ T A2 nhưng không trúng, vỏ chai bia rơi xuống đường bị vỡ, Hoàng nhìn thấy nhưng không nói gì. Xe của V Đ B1 chở Khánh đi qua xe của Bách và Tuấn Anh khoảng 10 mét thì quay lại chỗ xe của anh Đ T A2, V Đ B1 tiếp tục chửi "Địt mẹ mày", Khánh rút tiếp 01 vỏ chai bia thứ hai giấu trong người ném vào xe của anh Đ T A2, Hoàng đi ngay sau xe V Đ B1 nhìn thấy Khánh ném chai bia không có ý kiến gì. Anh B và Đ T A2 đứng dậy bỏ chạy lên vỉa hè vào nhà dân gần đó để không bị đánh. Anh Đồ Tuấn Anh bị xây xát ở tay trái và đầu gối phải; anh B bị xước ở tay, xe máy của anh Đỗ Anh Tuấn đổ xuống đường bị cong vành bánh trước.

Sau đó xe V Đ B1 chở Khánh và xe của Hoàng đi ra đường Đàm Quang Trung vòng lại rẽ lên Cố Linh. Khi đến trường cấp 2 L, Hoàng đi về nhà, xe của V Đ B1 chở Khánh tiếp tục đi tìm nhóm của Minh. Khi ra đường Nguyễn Văn Cừ thì gặp Xe của Minh chở B M B, xe của T T A3 chở N H A, xe của B Q A4 đi 1 mình. Sau đó cả nhóm tiếp tục đi dạo từ đường Nguyễn Cao Luyện - Lưu Khánh Đàm - Mai Chí Thọ ra Vincom L. Khi đến vòng xuyến Vincom thì cả nhóm dừng lại, N H M rủ mọi người về nhà Minh ở Tổ 16, L.

Đến 00 giờ 15 phút ngày 02/4/2026, tổ công tác Công an phường L tuần tra kiểm soát tại khu vực gầm cầu Vĩnh Tuy - đường Bát Khôi phát hiện vụ việc.

Cơ quan điều tra thu giữ vật chứng tại hiện trường: 06 mảnh thủy tinh dạng vỏ chai trên diện (1x1) m; Tạm giữ của B Q A4: 01 xe máy hiệu Honda BKS: 29X - 404.69; Tạm giữ của N H M: 01 xe máy hiệu Honda biển số: 29K1 - 941.95; Tạm giữ của V Đ B1: 01 xe máy hiệu Honda biển số: 29BH -106.14; Tạm giữ của N H A: 01 xe máy hiệu Honda biển số: 29Y7- 718.89; Tạm giữ của Đ V H: 01 xe máy hiệu Honda Vision màu xám, BKS 29AC-67322; Tạm giữ của chị L T K (mẹ đẻ anh Đ T A2) sinh năm 1980, trú tại: Tổ 12, phường L, Hà Nội: 01 xe máy hiệu Honda Alpha màu đen BKS 38 AP- 02289, xe có dấu vết bị hư hỏng và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 38001700, biển số đăng ký 38 AP- 02289.

Ngày 19/4/2026, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Gia Lâm đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với anh Đ T A2 và anh L H B nhưng anh Tuấn Anh và anh B rút đơn trình báo và từ chối giám định thương tích. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định dẫn giải nhưng anh Tuấn Anh và anh B không đi giám định.

Đối với hành vi của Tạ Huy Khánh: ngày 11/4/2026 Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hà Nội ra Quyết định khởi tố bị can số C475 về tội "Gây rối trật tự công cộng" quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Đối với hành vi của T T A3, B M B, B Q A4: ngày 26/5/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội ra Quyết định khởi tố bị can số C818, C819, C820 về tội "Gây rối trật tự công cộng" quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Do Tạ Huy Khánh, T T A3, B M B, B Q A4 dưới 18 tuổi nên ngày 26/5/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định tách vụ án, bị can để điều tra, truy tố và xét xử. Ngày 10/7/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Hà Nội đã ban hành cáo trạng số 170 để truy tố Tạ Huy Khánh, T T A3, B M B, B Q A4.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo Đ V H và N H A đã khai nhận toàn bộ hành vi như trên. Tại bản cáo trạng số 202B/CT-VKSHNI-KV, ngày 28/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội truy tố bị cáo Đ V H và bị cáo N H A về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà:

Các bị cáo đã khai nhận về hành vi mà các bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại cơ quan điều tra và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Bị cáo Đ V H khai: bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Khi đi trên đường, bị cáo gặp người quen là N H M đang đi cùng nhóm của Tạ Huy Khánh, nên cùng đi. Ngoài Minh ra, bị cáo không quen biết ai trong nhóm, cũng không nói chuyện với ai ngoài Minh. Tại cơ quan Công an, bị cáo cũng đã có lời khai về việc bản thân không hề biết việc Khánh mang theo vỏ chai bia trong người, cũng không có sự bàn bạc hay rủ nhau dùng chai bia để đánh nhau từ trước. Khi Khánh rút chai bia ném Tuấn Anh và Bách, bị cáo rất bất ngờ, bị cáo đi theo sau xe Khánh mục đích để can ngăn nhưng không kịp can ngăn, bị cáo không đồng tình với hành vi ném vỏ chai bia của Khánh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội trình bày luận tội: qua kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đ V H và bị cáo N H A.

Đề nghị xử phạt: Bị cáo Đ V H từ 05 tháng tù đến 10 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt. Bị cáo N H A: từ 05 tháng tù đến 10 tháng tù. thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 12/6/2026.

Về trách nhiệm dân sự: không

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: xe máy hiệu Honda Vision màu đen BKS: 29Y7-718.89 thu giữ của N H A (theo Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 05/4/2026 – BL 60) và máy hiệu Honda Vision màu xám, BKS 29AC.673.22 thu giữ của Đ V H (theo Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 04/4/2026 – BL 38) do liên quan đến hành vi phạm tội

Lời nói sau cùng của các bị cáo: nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho các bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:

. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 23 giờ ngày 01/4/2026, tại các tuyến đường thuộc khu vực phường Phúc Lợi, L, Hà Nội, N H A, Đ V H có hành vi tham gia giao thông trên xe máy và điều khiến xe máy với tốc độ cao khoảng 60 - 70 km/h, bấm còi, vượt đèn đỏ, không đội mũ bảo hiểm gây rối trật tự công cộng ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Trong quá trình tham gia gây rối trật tự công cộng Đ V H có cùng nhóm T H K(đã bị khởi tố trong vụ án khác) đuổi theo xe của anh Đ T A2 chở anh L H B đang đi xe máy.

Đến đoạn chân cầu Vĩnh Tuy rẽ đi hướng đê L, khi đến vòng cua do đi tốc độ nhanh nên xe của Đ T A2 chở L H B bị ngã rê trên đường khiến Tuấn Anh và Bách bị thương, lúc đó T H Kngồi sau xe của V Đ B1 và xe của Đ V H đuổi tới, Khánh dùng vỏ chai bia giấu trong người ném anh Đ T A2 và anh L H B nhưng không trúng. Anh B và anh Tuấn Anh đã từ chối giám định thương tích không có yêu cầu xử lý.

Hành vi của bị cáo Hoàng và bị cáo Hồng Anh điều khiển xe máy bám đuổi gay gắt, liên tục bấm còi ầm ĩ, lạng lách, đánh võng với tốc độ cao qua hàng loạt tuyến đường giao thông công cộng là chuỗi hành vi cố ý, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây rối loạn nghiêm trọng an toàn giao thông, đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người đi đường và gây bất bình sâu sắc trong dư luận quần chúng nhân dân đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự.

. Về việc đánh giá tình tiết định khung hình phạt:

Căn cứ kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa và tài liệu điều tra, HĐXX xét thấy cần làm rõ giới hạn trách nhiệm hình sự trong đồng phạm dựa trên nguyên tắc độc lập và cá thể hóa hình phạt đã xác định được: Việc bị cáo Khánh tự ý dừng xe, nhặt hai vỏ chai bia và giấu vào túi áo khoác là hành vi Khánh thực hiện độc lập, không thông báo, không bàn bạc, cố tình che giấu, dẫn đến việc không một ai trong nhóm (bao gồm cả Hoàng) biết. Bị cáo Hoàng nhập hội sau, khi đang đi trên đường và chỉ quen biết N H M. Hoàng không có sự bàn bạc hoặc bất kỳ sự liên kết hay tiếp nhận ý chí với T H Kvề việc sử dụng hung khí (là vỏ chai bia). Việc Khánh rút vỏ chai bia ném về phía anh Tuấn Anh và anh B diễn ra nhanh, bất ngờ. Việc Hoàng chứng kiến Khánh ném chai nhưng không nói gì chỉ là phản ứng tâm lý thụ động trước một tình huống bất ngờ, không phải là hành vi đồng phạm sử dụng hung khí. Vì vậy, đây là hành vi "quá giới hạn của người thực hành" (quá giới hạn đồng phạm) do một mình Khánh khởi xướng và thực hiện. Căn cứ khoản 4 Điều 17 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo Hoàng không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá giới hạn của người thực hành. Qua kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, diễn biến hành vi của các bị cáo phù hợp với cấu thành định tội tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự và đây cũng chính là quan điểm đề nghị truy tố hiện tại của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội.

. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội là có căn cứ, phù hợp với diễn biến khách quan của vụ án và nguyên tắc có lợi cho người phạm tội. Do đó, cần chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị xét xử các bị cáo theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Về hình phạt và các tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự, an toàn ở nơi công cộng được bộ luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của xã hội, gây hoang mang, lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Hà Nội nên cần phải có hình phạt tương xứng, phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù trong khung hình phạt mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung đối với cả hai bị cáo.

Tuy nhiên cũng xét, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có tổ chức, các bị cáo bộc phát, nảy sinh ý định phạm tội cùng tiếp nhận ý chí của nhau và cùng nhau thực hiện tội phạm không có sự phân công, phân nhiệm vai trò cho nhau, đều thực hiện hành vi phạm tội với vai trò thực hành. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Hoàng phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy HĐXX thấy cần xử phạt bị cáo Hoàng mức hình phạt tù bằng với thời gian tạm giam của bị cáo và trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Đối với bị cáo N H A: bị cáo đang bị Công an thành phố Hà Nội ra Quyết định khởi tố về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự ngày 19/10/2025 nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt cao hơn bị cáo Hoàng.

. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo.

. Về dân sự: Anh Đ T A2, anh L H B và người đại diện theo pháp luật của anh Tuấn Anh và anh B không có yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe máy hiệu Honda biển số: 29Y7-718.89 thu giữ của N H A qua điều tra xác minh là xe đăng ký tên N H A do Hồng Anh tự mua. Đối với xe máy hiệu Honda Vision màu xám, BKS 29 AC- 67322 thu giữ của Đ V H qua điều tra xác minh là xe đăng ký tên Đ V H: cả hai chiếc xe máy này các bị cáo đều sử dụng vào hành vi phạm tội nên cho tịch thu sung công quỹ Nhà nước (hiện đang lưu giữ tại Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hà Nội).

- Đối với các xe máy hiệu Honda biển số: 29Y7-404.69 thu giữ của B Q A4; xe máy hiệu Honda biển số: 29K1 - 941.95 thu giữ của N H M; xe máy hiệu Honda biển số: 29BH -106.14 thu giữ của V Đ B1 và 06 mảnh thủy tinh dạng vỏ chai trên diện (1x1) m thu giữ tại hiện trường, cơ quan Công an đã giải quyết trong Bản án số 364/2026/HSST, ngày 06/8/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội xét xử bị cáo T H Kvà đồng phạm (tách vụ án).

- Đối 01 xe máy hiệu Honda Alpha màu đen BKS 38 AP- 02289 và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 38001700, biển số đăng ký 38 AP-02289 là xe của chị L T K (mẹ đẻ anh Đ T A2). Ngày 01/4/2026, Đ T A2 tự lấy xe máy đi chị không biết. Ngày 11/7/2026, Cơ quan điều tra trả chiếc xe trên cho chị Khuyến là đúng quy định.

. Về những vấn đề khác:

- Đối với hành vị của T H Kngày 11/4/2026 Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hà Nội ra Quyết định khởi tố bị can số C475 về tội "Gây rối trật tự công cộng" quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

- Đối với hành vi của N H M, V Đ B1 khi điều khiển xe phóng nhanh, bấm còi inh ỏi trên đường. Do Minh và Đức Bảo chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hà Nội không xử lý về tội "gây rối trật tự công cộng" theo quy định tại điều 318 Bộ luật hình sự là đúng quy định của pháp luật.

- Đối với Đ V H và anh Đ T A2 có các hành vi như: điều khiên xe mô tô hai bánh có dung tích xi lanh dưới 125cc không có giây phép lái xe, không đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy khi điêu khiên xe tham gia giao thông trên dường bộ; không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông; điều khiển xe không có đèn chiếu hậu bên trái người điều khiển đã bị công an phường L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

- Đối với N H A và anh L H B vi phạm lỗi như: Người được chở trên xe mô tô không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bị công an phường L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

- Hành vi của T T A3, B M B, B Q A4 ngày 26/5/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội ra Quyết định khởi tố bị can số C818, C819, C820 về tội "Gây rối trật tự công cộng" quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Ngày 10/7/2026, Viện kiêm sát nhân dân khu vực 5- Hà Nội đã ban hành cáo trạng số 170 truy tố các bị can trên (trong vụ án khác). Do các Tạ Huy Khánh, T T A3, B M B, B Q A4 phạm tội dưới 18 tuôi nên ngày 26/5/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phô Hà Nội đã ra Quyết định tách vụ án, bị can để điều tra, truy tố và xét xử là đúng quy định của pháp luật.

. Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: các bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo: Đ V H và N H A.

Áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Đ V H.

Áp dụng các Điều: 331, 332 và 333, và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự:

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án;

Tuyên bố các bị cáo: Đ V H và N H A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt: Đ V H 04 (bốn) tháng 14 (mười bốn) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 05/4/2026.

Xác nhận: bị cáo Đ V H đã chấp hành xong hình phạt tù. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Đ V H đang bị tạm giam nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Xử phạt: N H A 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 12/6/2026.

2. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét giải quyết.

3. Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 xe máy hiệu Honda Vision màu xám, BKS 29 AC- 67322, số khung: RLHJK 0383 TY400883; Số máy: JK 03E1786695 (thu giữ của Đ V H) và 01 xe máy hiệu Honda Vision màu đen, đeo BKS: 29Y7-718.89, số máy: JK03E – 4912725; số khung: RLHJK 0332PZ111692 (thu giữ của N H A). Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hà Nội.

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Về án phí: Bị cáo Đ V H và bị cáo N H A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Trường hợp bản án, quyết đinh được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,8 và 36 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án.

Cỡ chữ