- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "P - C"
- Tòa quyết gì? điểm a khoản 5 Điều 477 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 386/2022/HNGĐ-ST Ngày: 31/3/2022 V/v Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Hòa
2. Bà Nguyễn Đức Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thư Thái Bình - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Tào Minh Quân – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 216/2021/TLST - HNGĐ
ngày 21/6/2021 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau
khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 750/2022/QĐXXST-
HNGĐ ngày 07/3/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thùy P, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: đường L, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Trương Thanh C, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Sweden.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 26/4/2021 và bản tự khai nguyên đơn – bà Trần
Thị Thùy P trình bày:
Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các
đương sự số 58/2014/QĐST-HNGĐ ngày 27/8/2014 của Tòa án nhân dân
huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, thì nguyên đơn và bị đơn đã thuận tình ly hôn.
Về con chung: Bị đơn được trực tiếp nuôi con chung là trẻ Trương Q, sinh
ngày 18/02/2009, nguyên đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, bị đơn xuất cảnh và định cư ở Thụy Điển và nguyên đơn là người trực tiếp nuôi con cho đến nay. Để đảm bảo quyền lợi của trẻ, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi quyền nuôi con và công nhận cho nguyên đơn là người trực tiếp nuôi con, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.
Tại bản trình bày ý kiến ngày 30/11/2021 được Đại sứ quán Việt Nam tại
Thụy Điển chứng nhận chữ ký ngày 28/12/2021, bị đơn – ông Trương Thanh C trình bày:
Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các
đương sự số 58/2014/QĐST-HNGĐ ngày 27/8/2014 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, thì bị đơn và nguyên đơn đã thuận tình ly hôn. Bị đơn là người được trực tiếp nuôi con chung là trẻ Trương Q, sinh ngày 18/02/2009, nguyên đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau đó, bị đơn định cư ở Thụy Điển và trẻ Trương Q do nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng cho đến nay. Bị đơn đồng ý giao trẻ Trương Q, sinh ngày 18/02/2009 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con do nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên bị đơn cũng không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa.
Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý
kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và
Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi
kiện của nguyên đơn:
+ Giao trẻ Trương Q, sinh ngày 18/02/2009 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi
dưỡng
+ Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí đối với yêu cầu thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau ly hôn là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội
đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
- Ngày 26/4/2021, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau ly hôn. Bị đơn hiện đang cư trú tại Thụy Điển, nên căn cứ vào
khoản 3 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào
khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
- Căn cứ theo Giấy khai sinh số 12/2009, quyển số 01/2009 do Ủy ban
nhân dân xã Bình Tịnh, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An cấp ngày 12/3/2009 thì
trẻ Trương Q, sinh ngày 18/02/2009 là con của nguyên đơn và bị đơn.
- Về việc nuôi con: Căn cứ theo lời khai thống nhất của hai bên đương sự
thì sau khi ly hôn, bị đơn xuất cảnh và định cư ở Thụy Điển, nguyên đơn là
người trực tiếp nuôi con cho đến nay. Xét thấy, trẻ Trương Q hiện đang sống
ổn định cùng với nguyên đơn ở Việt Nam và có nguyện vọng được tiếp tục ở
với mẹ, nguyên đơn và bị đơn cũng thống nhất thay đổi người trực tiếp nuôi
con. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của trẻ, căn cứ Điều 84 Luật Hôn nhân và
Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao trẻ Trương Q,
sinh ngày 18/02/2009 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí đối với yêu cầu thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37,
Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273,
điểm a khoản 5 Điều 477 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 ;
Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116, Điều 117, Điều
118, Điều 129 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thùy P.
- Về việc nuôi con: Giao trẻ Trương Q, sinh ngày 18/02/2009 cho bà Trần
Thị Thùy P trực tiếp nuôi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Trương Thanh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy
định tại Điều 82, 83, 84 116, 117 Luật hôn nhân gia đình 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
2. Bà Trần Thị Thùy P tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000
(ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà Trần Thị Thùy P đã nộp theo biên lai số AA/2019/0094769 ngày 16/6/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị Thùy P đã nộp đủ án phí.
3. Bà Trần Thị Thùy P có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời
hạn là 15 (mười lăm) ngày; ông Trương Thanh C có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại Tp. HCM; - VKSND Tp. HCM ; - VKSND cấp cao tại Tp. HCM; - Cục THADS Tp. HCM; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (15). THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Ngọc Hòa Nguyễn Đức Hạnh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thanh Bình THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thanh Bình |