vanban.org

Bản án 386/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dư Thị Thu Tr đối với ông Nguyễn Tấn T.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Dư Thị Thu Tr và ông Nguyễn Tấn T chấm dứt. Giấy chứng nhận kết hôn số 54/2015, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã Bình T, huyện Thạnh P, tỉnh Bến Tre cấp ngày 14/7/2015 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Giao con chung t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Bản án sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dư Thị Thu Tr đối với ông Nguyễn Tấn T.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 386/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 26/4/2019
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thúy Oanh.

2. Bà Nguyễn Thị Vạn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2019, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 483/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 73/2019/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Dư Thị Thu Tr, sinh năm 1993 – Có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: A4/19/3 ấp 1B, xã Vĩnh L, huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1984 – Vắng mặt.

Địa chỉ: A4/19/3 ấp 1B, xã Vĩnh L, huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn xin ly hôn ngày 13/4/2018, bản tự khai ngày 31/5/2018, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 29/10/2018 và biên bản về việc không tiến hành hòa giải được các ngày 31/5/2018 và ngày 29/10/2018, nguyên đơn Bà Dư Thị Thu Tr trình bày:

Bà Tr với ông Nguyễn Tấn T chung sống với nhau từ năm 2013, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 14/7/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Bình T, huyện Thạnh P, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận kết hôn số 54/2015, quyển số 01/2015. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc, không có gì xảy ra. Đến năm 2015, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T không lo làm ăn, ham chơi, mê đá gà, cá độ dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả. Ông T từng bị phạt tù về tội đá gà. Bà Tr từng nhiều lần khuyên chồng nhưng không có kết quả; hạnh phúc vợ chồng không còn dù bà Thu Tr đã cố gắng hàn gắn, cho ông T nhiều cơ hội sửa lỗi. Bà Thu Tr và ông T đã sống ly thân từ đầu khoảng năm 2018 cho đến nay. Xét tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nay bà Dư Thị Thu Tr yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Tấn T.

Về con chung: Bà Tr và ông T chung sống có 01 con chung tên là Nguyễn Ngọc Khả V (nữ), sinh ngày 01/12/2014. Khi ly hôn, bà Tr yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tr xác nhận bà và ông T chung sống không có tài sản chung và không nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Tấn T vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay mà không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến hay yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến như sau: Về Tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Dư Thị Thu Tr đối với ông Nguyễn Tấn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Dư Thị Thu Tr khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Tấn T. Căn cứ vào kết quả xác minh (Công văn đến số 335/CVĐ ngày 13/3/2019) do Công an xã Vĩnh L, huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thì ông Nguyễn Tấn T đang thực tế cư trú tại địa chỉ: A4/19/3 ấp 1B, xã Vĩnh L, huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự:

+ Ông Nguyễn Tấn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Tấn T.

+ Bà Dư Thị Thu Tr có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Dư Thị Thu Tr.

[3] Về các yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 54/2015, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã Bình T, huyện Thạnh P, tỉnh Bến Tre cấp ngày 14/7/2015 thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Dư Thị Thu Tr và ông Nguyễn Tấn T là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, bà Dư Thị Thu Tr trình bày: Bà Tr và ông Nguyễn Tấn T chung sống với nhau từ 2013, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 54/2015, quyển số 01/2015 vào ngày 14/7/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Bình T, huyện Thạnh P, tỉnh Bến Tre. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc, không có gì xảy ra. Đến năm 2015, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T không lo làm ăn, ham chơi, mê đá gà, cá độ dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả. Ông T từng bị phạt tù về tội đá gà. Bà Tr từng nhiều lần khuyên chồng nhưng không có kết quả; hạnh phúc vợ chồng không còn dù bà Thu Tr đã cố gắng hàn gắn, cho ông T nhiều cơ hội sửa lỗi. Bà Tr và ông T đã sống ly thân từ đầu khoảng năm 2018 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nay bà Dư Thị Thu Tr yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Tấn T.

Căn cứ vào Công văn số 2073/UBND ngày 01/8/2018 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh L, huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng hôn nhân của bà Dư Thị Thu Tr và ông Nguyễn Tấn T thì kết quả như sau: “Qua xác minh địa chỉ và trao đổi với bà Nguyễn Thị Huyền Tr1 là tổ trưởng tổ 13 ấp 1B, xã Vĩnh L thì do bà Tr và ông T hiện nay không còn chung sống với nhau và thời gian sinh hoạt của 02 ông bà không thường xuyên tại địa chỉ trên nên không thu thập được thông tin.”

Ông Nguyễn Tấn T dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản thể hiện yêu cầu cầu của nguyên đơn gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập đương sự nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa để giải quyết vụ án, cũng không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến hay yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Mặt khác, ông T cũng không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà Tr. Như vậy, ông T đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên ông T phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hiện nay, bà Tr và ông T mỗi người sống mỗi nơi không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cả hai đã ly thân hơn 01 năm nay. Mục đích hôn nhân giữa bà Tr và ông T đã không còn, bà Tr không muốn chung sống với ông T nữa.

Do đó, Hội đồng xét xử xét nhận thấy việc bà Tr yêu cầu ly hôn với ông T là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình. Từ các nhận định trên và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình C, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dư Thị Thu Tr đối với ông Nguyễn Tấn T.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà Tr và ông T có 01 con chung tên là Nguyễn Ngọc Khả V (nữ), sinh ngày 01/12/2014. Khi ly hôn, bà Dư Thị Thu Tr yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung vì trẻ đã sống cùng với bà Dư Thị Thu Tr từ nhỏ, kể cả trong thời gian bà Dư Thị Thu Tr và ông Nguyễn Tấn T sống ly thân.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Tấn T vắng mặt, không có bất kỳ văn bản nào trình bày nguyện vọng về con chung khi ly hôn.

Xét thấy nguyện vọng của bà Dư Thị Thu Tr về con chung là phù hợp và cũng thuận lợi nhất cho con trẻ vì bà Tr là mẹ lại gần gũi và chăm sóc con gái từ nhỏ. Mặt khác, theo lời khai của bà Tr, ông T không lo làm ăn, ham chơi, mê đá gà, cá độ dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng; ông T từng bị phạt tù về tội đá gà. Từ đó cho thấy, bà Tr có đầy đủ điều kiện chăm sóc con chung tốt hơn ông T.

Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Dư Thị Thu Tr về vấn đề con chung như sau: Giao trẻ Nguyễn Ngọc Khả V (nữ), sinh ngày 01/12/2014 cho bà Dư Thị Thu Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Dư Thị Thu Tr về việc không yêu cầu ông Nguyễn Tấn T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Dư Thị Thu Tr xác định bà Dư Thị Thu Tr và ông Nguyễn Tấn T chung sống không có tài sản chung, không nợ ai.

Ông Nguyễn Tấn T vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại Tòa hôm nay, không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình về vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa bà Tr và ông.

Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa bà Dư Thị Thu Tr và ông Nguyễn Tấn T. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[4] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bà Dư Thị Thu Tr phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dư Thị Thu Tr đối với ông Nguyễn Tấn T.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Dư Thị Thu Tr và ông Nguyễn Tấn T chấm dứt. Giấy chứng nhận kết hôn số 54/2015, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã Bình T, huyện Thạnh P, tỉnh Bến Tre cấp ngày 14/7/2015 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao con chung tên là Nguyễn Ngọc Khả V (nữ), sinh ngày 01/12/2014 cho bà Dư Thị Thu Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Tấn T do bà Tr có khả năng và không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Dư Thị Thu Tr xác định bà Dư Thị Thu Tr và ông Nguyễn Tấn T chung sống không có tài sản chung, không nợ ai. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa bà Dư Thị Thu Tr và ông Nguyễn Tấn T. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Dư Thị Thu Tr phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí đối với yêu cầu ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0031868 ngày 23/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Dư Thị Thu Tr đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Dư Thị Thu Tr và ông Nguyễn Tấn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. Nơi nh n:

Cỡ chữ