vanban.org

Bản án 385/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 23/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Trần Văn S 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2022. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn S bị truy tố về tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 385/2022/HS-ST
Ngày 23-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Ông Tô Văn Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá L, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 333/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 343/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2022/HSST-QĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Văn S, sinh năm 1995 tại tỉnh An Giang; thƣờng trú: Ấp Th, xã Th, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: phật; giới tính: Nam; Con ông: Trần Văn H, không rõ năm sinh năm và bà Nguyễn Thị L, không rõ năm sinh; bị cáo có 01 em ruột sinh năm 2001; bị cáo chƣa có vợ, con; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/7/2022, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1984; địa chỉ: khu phố T, phƣờng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1993 và anh Lê Văn L, sinh năm 1991; cùng địa chỉ: Số A, khu phố B, phƣờng A, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 28/7/2022, Dƣơng Thanh Ng nhờ Trần Văn S đến nhà nghỉ “Lan Anh” thuộc phƣờng Thái Hòa, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng chở đi mua đồ dùng sinh hoạt cá nhân, S đồng ý và điều khiển xe môtô nhãn hiệu Kawasaki max biển số: 67AE-012.35 đến chở Ng. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày S tiếp tục chở Ng đi sang địa bàn phƣờng Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Khi đi ngang qua tiệm bán chăn, ra, gối nệm của anh Nguyễn Văn G thuộc khu phố Tân Hiệp, phƣờng Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, Ng nói S quay lại để mua đồ, S điều khiển xe quay lại đứng trƣớc cửa tiệm chờ còn Ng đi vào trong tiệm lựa đồ, lúc đang lựa đồ Ng nhìn thấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A92 màu xanh đen của anh G đang để trên đống ra, nệm nên Ng ngồi xuống ngay cạnh chiếc điện thoại. Lúc này, S nhìn Ng nháy mắt chỉ vào chiếc điện thoại thì Ng hiểu ý là S kêu lấy trộm, Ng lấy một vỏ bao gối chặn lên chiếc điện thoại này rồi cầm chiếc điện thoại giấu vào trong khe niệm cạnh nơi S đứng, S lùi xe lại khoảng 50cm mục đích để che điện thoại không cho anh G chủ tiệm nhìn thấy, rồi Ng lấy chiếc điện thoại đƣa cho S, khi Ng vừa lấy điện thoại ra S đƣa tay ra phía sau cầm cái điện thoại cất giấu dƣới đùi bên trái rồi giả vờ nói to đi đổ xăng để đánh lạc hƣớng anh G, sau đó sẽ quay lại đón Ng để anh G nghe thấy rồi S chạy xe đi mất, bỏ lại Ng.

Sau đó S đem chiếc điện thoại vừa lấy đƣợc mang đến tiệm cầm đồ “An Phú 2” địa chỉ khu phố 4, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng do chị Nguyễn Thị S làm chủ và cầm cố với số tiền 2.000.000 đồng rồi bỏ trốn về phòng trọ tại khu phố Khánh Long, phƣờng Tân Phƣớc Khánh, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng. Anh Nguyễn Văn G bị mất điện thoại nên xem lại camera thì phát hiện Ng và S lấy nên trình báo Cơ quan Công an phƣờng Tân Bình, Công an phƣờng Tân Bình mời Ng về trụ sở làm việc. Tại đây Ng đầu thú và khai nhận cùng với S chiếm đoạt chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A92 màu xanh đen của anh G. Công an phƣờng lập biên bản tiếp nhận ngƣời phạm tội đầu thú, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An theo thẩm quyền.

Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản số: 91/BBĐG-HĐGĐTS ngày 03/8/2022, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A92 màu xanh đen trị giá 3.200.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A92 màu xanh đen.

+ Tiền việt nam đồng: 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

Tại cáo trạng số 362/CT-VKS ngày 01 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Trần Văn S về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Trần Văn S từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù.

* Về xử lý vật chứng:

+ Ngày 06/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho anh Nguyễn Văn G 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A92 màu xanh đen.

+ Ngày 14/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho chị Nguyễn Thị S số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

+ Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Kawasaki max biển số: 67AE-012.35, sau khi sử dụng S mang về trả cho 01 ngƣời quen biết (không rõ nhân thân lai lịch), nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi đƣợc.

+ Đối với hành vi của chị Nguyễn Thị S nhận cầm điện thoại di động hiệu OPPO A92 màu xanh đen của S nhƣng không biết tài sản do S chiếm đoạt của ngƣời khác nên cơ quan điều tra không đề nghị xử lý.

+ Đối với Dƣơng Thanh Ng, trong quá trình khởi tố, ra lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú điều tra đến nay Ng bỏ trốn, Cơ quan điều tra ra Quyết định tách vụ án, lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Dƣơng Thanh Ng để xử lý sau.

Trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Văn G và chị Nguyễn Thị S sau khi nhận lại tài sản và tiền không yêu cầu về gì về trách nhiệm dân sự nên Viện kiểm sát không đặt ra xem xét.

Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên không tranh luận.

Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự có mặt của ngƣời tham gia tố tụng: Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 290, 292 Bộ luật tố tụng Hình sự Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo, bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: bị cáo Trần Văn S lén lút chiếm đoạt điện thoại có giá trị 3.200.000 đồng của anh Nguyễn Văn G đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của Dƣơng Thanh Ng, lời khai của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nhƣ Biên bản tiếp nhận ngƣời phạm tội ra đầu thú, Biên bản xác định địa điểm, Kết luận định giá tài sản số 91/BBĐG-HĐGĐTS ngày 03/8/2022 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An. Nhƣ vậy, Cáo trạng số 362/CT-VKS ngày 01 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại, bị cáo đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về hình phạt: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51, Điều 52 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dƣới mức thấp nhất của khung hình phạt để áp dụng cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A92 màu xanh đen là tài sản của anh G bị S chiếm đoạt, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi và ra Quyết định trả lại cho anh Nguyễn Văn G là đúng quy định pháp luật.

+ Số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) của chị Nguyễn Thị S đã đƣợc thu hồi và trả lại cho chị S, chi S không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Kawasaki max biển số: 67AE-012.35, sau khi sử dụng S mang về trả cho 01 ngƣời quen biết (không rõ nhân thân lai lịch), nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi đƣợc.

+ Đối với hành vi của chị Nguyễn Thị S nhận cầm điện thoại di động hiệu OPPO A92 màu xanh đen của S nhƣng không biết tài sản do S chiếm đoạt của ngƣời khác nên cơ quan điều tra không đề nghị xử lý.

+ Đối với Dƣơng Thanh Ng, trong quá trình khởi tố, ra lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú điều tra đến nay Ng bỏ trốn, Cơ quan điều tra ra Quyết định tách vụ án, lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Dƣơng Thanh Ng để xử lý sau.

Trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Văn G và chị Nguyễn Thị S sau khi nhận lại tài sản và tiền không yêu cầu về gì về trách nhiệm dân sự nên Viện kiểm sát không đặt ra xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về mức hình phạt đối với bị cáo là quá nghiêm khắc so với với tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo nhƣ đã phân tích tại mục [7] nên Hội đồng xét xử sẽ xử với mức hình phạt thấp hơn mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị, nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo S phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Văn S 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2022.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Trần Văn S phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ