vanban.org

Bản án 385/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết V phạm Tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án số 141/2019/HSST ngày 05/6/2019 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo về Tội trộm cắp tài sản, thành 01 (một) năm tù giam. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Viết Việt phạm tội trộm cắp tài sản; - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết V phạm Tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 385/2019/HS-ST
Ngày: 12- 11- 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Ông Tô Văn Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 373/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 396/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Viết V, sinh năm 1995 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Xóm 2, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; tạm trú: khu phố 2, phường B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Viết Đ, sinh năm 1968 và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1972; có 02 em ruột, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2000; có vợ tên Lê Thị H, sinh năm 1993 và 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019; tiền án: Ngày 05/6/2019 bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo bản án số 141/2019/HSST; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 10/8/2019, có mặt.

- Bị hại: Trần Hoàng G, sinh năm 1973; thường trú: Ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.

- Người chứng kiến: Lê Văn N; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 10/8/2019 V ở phòng trọ số khu phố 2, phường B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh thì L (chưa rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại rủ đi trộm. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô Exciter 150 màu đen (không rõ biển số) đến phòng trọ của V. Sau đó, V điều khiển xe chở L ngồi phía sau đi tìm tài sản để chiếm đoạt, nhưng do trời mưa nên cả hai dừng lại mặc áo mưa. L lấy 01 cây đoản hình chữ “T” và 01 nam châm mở khóa từ vào túi áo mưa phía trước bên phải của V và cả hai tiếp tục điều khiển xe tìm tài sản. Khi đi đến trước dãy nhà trọ đường Nguyễn Tri P, khu phố Nhị Đồng 2, phường Dĩ An, thị xã Dĩ An, cả hai nhìn thấy xe mô tô Exciter biển số 66V1-53699 của ông Trần Hoàng G dựng trước dãy trọ, V dừng xe, đứng ngoài cảnh giới, L đi đến vị trí chiếc xe và lấy 01 cây đoản hình chữ “T”, 01 nam châm mở khóa từ trong túi áo mưa để mở khóa từ, bẻ ổ khóa xe, quay đầu xe mô tô biển số 66V1-53699 ra đường, L đi lại chỗ V đứng và nói V vào lấy xe ra còn L chạy xe của mình. Khi V ngồi lên xe biển số 66V1-53699 nổ máy thì trong nhà có người truy hô “cướp cướp” nên V và L tăng ga bỏ chạy mỗi người 01 hướng. V chạy đến ngã tư Gò Dưa, Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh thì bị lực lượng Công an phường Bình Chiểu, Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh bắt giữ, L chạy thoát.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 66V1-53699; 01 áo mưa bị rách màu đen, nâu, xanh; 01 khối kim loại kích thước 02x4cm hai đầu có gắn nam châm màu vàng (nam châm mở khóa từ); 01 cây đoản phá ổ khóa hình chữ T.

Tại biên bản và kết luận định giá tài sản số 204/BB.ĐG ngày 25/9/2019 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An, kết luận 01 xe mô tô biển số 66V1-53699 có trị giá là 34.500.000 đồng.

Tại biên bản và kết luận định giá tài sản số 205/BB.ĐG ngày 26/9/2019 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An ngày 26/9/2019, kết luận những bộ phận hư hỏng của xe mô tô biển số 66V1-53699 là 19.622.000 đồng, các bên đã thỏa thuận bồi thường xong.

Đối với 01 xe mô tô biển số 66V1-53699 thu giữ trong vụ án, ông Trần Hoàng G đứng tên đăng ký chủ sở hữu; đã trả lại cho ông G.

Tại cáo trạng số: 392/CT-VKS–DA ngày 22 tháng 10 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Viết V về Tội trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 56; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và điển h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Viết V mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Viết V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong bản cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người chứng kiến không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Khoảng 11 giờ ngày 10/8/2019 tại trước dãy trọ đường Nguyễn Tri P, khu phố Nhị Đồng 2, phường Dĩ An, thị xã Dĩ An, Nguyễn Viết V và đồng bọn đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô Exciter biển số 66V1-53699 trị giá 34.500.000 đồng của ông Trần Hoàng G, sau đó bỏ chạy đến khu vực ngã tư Gò Dưa, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, bị quần chúng và lực lượng Công an phát hiện bắt giữ.

Tài sản bị cáo chiếm đoạt là xe mô tô trị giá 34.500.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng số 392/CT-VKS–DA ngày 22 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo Nguyễn Viết V là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội trong trường hợp chưa được xóa án tích, thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, tại phiên tòa bị hại G xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, bị Tòa án xét xử về tội trộm cắp tài sản và có tiền án về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, chưa thi hành xong hình phạt.

Như vậy, bị cáo phải chấp hành hình của bản án số 141/2019/HSST ngày 05/6/2019 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo về Tội trộm cắp tài sản, thành 01 (một) năm tù giam, do bị cáo phạm tội mới trong thời gian thi hành án treo.

Tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Nguyễn Viết V phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án, được khấu trừ thời gian tạm giữ tại bản án của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 23/12/2018 đến ngày 01/01/2019.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với 01 xe mô tô Exciter biển số 66V1-53699 đã thu hồi trả lại cho bị hại ông Trần Hoàng G. Ông G yêu cầu bị cáo Nguyễn Viết V bồi thường số tiền 19.622.000 đồng là tiền sửa chữa những bộ phận hư hỏng của xe mô tô biển số 66V1-53699; tại phiên Tòa ông G, bị cáo và gia đình bị cáo thỏa thuận xong phần bồi thường thiệt hại và bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 áo mưa bị rách màu đen, nâu, xanh; 01 khối kim loại kích thước 2x4cm hai đầu có gắn nam châm màu vàng (nam châm mở khóa từ); 01 cây đoản phá ổ khóa hình chữ T bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với tên L cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với Nguyễn Viết V, chưa xác định được lai lịch, tiếp tục xác minh xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết V phạm Tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 56; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và điển h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án số 141/2019/HSST ngày 05/6/2019 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo về Tội trộm cắp tài sản, thành 01 (một) năm tù giam.

Tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Nguyễn Viết V phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/8/2019, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày từ ngày 23/12/2018 đến ngày 01/01/2019.

2. Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận bồi thường xong.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

- Tịch thu tiêu hủy 01 áo mưa bị rách màu đen, nâu, xanh; 01 khối kim loại kích thước 2x4cm hai đầu có gắn nam châm màu vàng (nam châm mở khóa từ); 01 cây đoản phá ổ khóa hình chữ T.

4. Án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Viết V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ