- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Qũy tín dụng nhân dân Tân Quy Đông - Phạm Thanh Tùng"
- Tòa quyết gì? [1] Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ; bị đơn ông Phạm Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 384/2023/DS-ST Ngày: 25/9/2023 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Lê Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng Sen;
2. Ông Nguyễn Thanh Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Hoàng Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Hương – Kiểm sát viên
Trong ngày 25 tháng 9 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 157/2023/TLST-DS ngày 22/3/2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 384/2023/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 279/2023/QĐST-DS ngày ngày 07 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân T1
Địa chỉ: Số E đường C, phường T, Quận G, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Bùi Minh S, sinh năm 1986 (Giấy ủy quyền số 277/UQ-QTD ngày 07/12/2022) – Có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn: Ông Phạm Thanh T, sinh năm 1998 – Vắng mặt;
Địa chỉ: 4 T, Tổ A, Khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn M, sinh năm 1952 – Vắng mặt;
Địa chỉ: 4 T, Tổ A, Khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện; Các bản tự khai; Biên bản không tiến hành hòa giải được cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ và tại phiên toà thì nội dung vụ án được xác định như sau:
Nguyên đơn có ông Bùi Minh S là đại diện hợp pháp trình bày:
Ngày 30/10/2021, ông Phạm Thanh T có ký kết Hợp đồng tín dụng số 2-0002915/HĐTD với Quỹ tín dụng nhân dân T1 để vay số tiền là 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng; thời hạn vay 12 tháng; ngày đến hạn trả nợ là ngày 30/10/2022, lãi suất thời điểm ký hợp đồng là 12,17%/năm; hình thức trả nợ vay: trả nợ gốc và lãi hàng tháng; mục đích sử dụng vốn: Buôn bán cơm.
Tính đến ngày 25/9/2023, ông T còn nợ Quỹ tín dụng nhân dân T1 số tiền cụ thể như sau:
1. Số tiền nợ gốc: 50.000.000 đồng
Ông T đã trả được: 29.918.600 đồng
Nợ gốc còn phải trả = 50.000.000 đồng – 29.918.600 đồng = 20.081.400 (Hai mươi triệu không trămtám mươi mốt nghìn bốn trăm) đồng.
2. Số tiền nợ lãi theo hợp đồng vay tài sản đã ký bao gồm:
a) Tiền lãi trong hạn = 6.085.000 đồng (Tính từ ngày 30/10/2021 đến ngày 25/9/2023).
Lãi trong hạn ông T đã trả: 1.000.000 đồng
Lãi trong hạn còn phải trả = 6.085.000 đồng – 1.000.000 đồng = 5.085.000 đồng
b)Tiền lãi chậm trả tính trên nợ lãi chậm trả: 193.000 đồng (Tính từ ngày 30/10/2021 đến ngày 25/9/2023).
c) Tiền lãi quá hạn: 4.474.000 đồng (Tính từ ngày 30/10/2021 đến ngày 25/9/2023)
Tổng số tiền ông T phải trả cho Q tín dụng là: 29.833.400 (Hai mươi chín triệu tám trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm) đồng.
Do ông T đã vi phạmnghĩa vụ thanh toán đối với hợp đồng tín dụng đã ký nên Quỹ tín dụng nhân dân T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử buộc ông T phải thanh toán cho Quỹ tín dụng nhân dân T1 tổng số tiền là 29.833.400 (Hai mươi chín triệu tám trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm) đồng. Trả 01 lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra ông Phạm Thanh T phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 2-0002915/HĐTD ngày 30/10/2021 kể từ ngày 26/09/2023 cho đến khi thi hành án xong.
Tại đơn khởi kiện ngày 16/02/2023 nguyên đơn khởi kiện ông Phạm Thanh T và ông Phạm Văn M trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 2-0002915/HĐTD ngày 30/10/2021 được ký kết giữa ông Phạm Thanh T và Quỹ tín dụng nhân dân T1.
Tuy nhiên đến ngày 16/6/2023 nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ có đơn đề nghị thay đổi và rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể nguyên đơn rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với ông Phạm Văn M, chỉ yêu cầu ông Phạm Thanh T thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng số 2-0002915/HĐTD ngày 30/10/2021.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
Ý kiến của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7:
1. Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý quy định tại các điều từ Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ 93 đến 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án được giải quyết đúng thời hạn quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 86 và Điều 234 Bộ luật Bộ luật tố tụng năm 2015.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt không lý do. Như vậy, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng năm 2015.
3. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T1 khởi kiện bị đơn ông Phạm Thanh T phải thanh toán số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng số 2-0002915/HĐTDngày 30/10/2021. Đây là tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”.
Bị đơn ông Phạm Thanh T cư trú tại địa chỉ: Số D T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về hình thức
Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về các yêu cầu của đương sự:
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ đối với bị đơn ông Phạm Thanh T, căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa:
Xét, căn cứ hợp đồng tín dụng số 2-0002915/HĐTD ngày 30/10/2021 có đủ căn cứ xác định Quỹ tín dụng nhân dân T1 và ông Phạm Thanh T đã ký hợp đồng tín dụng, cụ thể: Số tiền vay là 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng, thời hạn vay 12 tháng; ngày đến hạn trả nợ là ngày 30/10/2022, lãi suất thời điểm ký hợp đồng là 12,17%/năm; hình thức trả nợ vay: trả nợ gốc và lãi hàng tháng.
Căn cứ vào Giấy nhận nợ ngày 30/10/2021 và phiếu chi ngày 30/10/2021, xác định bị đơn ông Phạm Thanh T đã được nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đông giải ngân và ông T đã nhận đủ số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn là ông Phạm Thanh T đã thanh toán cho Quỹ tín dụng nhân dân T1 số tiền gốc là 29.918.600 (Hai mươi chín triệu chín trăm mười tám nghìn sáu trăm) đồng và số tiền nợ lãi trong hạn là 6.085.000 (Sáu triệu không trăm tám mươi lăm nghìn) đồng.
Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 25/09/2023, nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ yêu cầu bị đơn ông Phạm Thanh T phải thanh toán tổng cộng số tiền: tổng số tiền là 29.833.400 (Hai mươi chín triệu tám trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm) đồng, trong đó số tiền nợ gốc là: 20.081.400 (Hai mươi triệu không trăm tám mươi mốt nghìn bốn trăm) đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 6.085.000 (Sáu triệu không trăm tám mươi lăm nghìn) đồng (Tính từ ngày 30/10/2021 đến ngày 25/9/2023), tiền nợ lãi quá hạn là 4.474.000 (Bốn triệu bốn trăm bảy mươi bốn nghìn) đồng (Tính từ ngày 30/10/2021 đến ngày 25/9/2023), tiền lãi chậm trả tính trên nợ lãi chậm trả: 193.000 (Một trăm chín mươi ba nghìn) đồng (Tính từ ngày 30/10/2021 đến ngày 25/9/2023).
Xét, theo quy định của pháp luật:
+ Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”.
+ Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Xét, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn ông Phạm Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Văn M. Tuy nhiên bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đến Tòa giải quyết vụ án và cũng không có văn bản phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã không thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự thì trình bày của nguyên đơn được thừa nhận.
Do đó, yêu cầu của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ buộc bị đơn ông Phạm Thanh T phải thanh toán tổng số tiền là: 29.833.400 (Hai mươi chín triệu tám trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm) đồng, trong đó số tiền nợ gốc là: 20.081.400 (Hai mươi triệu không trăm tám mươi mốt nghìn bốn trăm) đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 6.085.000 (Sáu triệu không trăm tám mươi lăm nghìn) đồng (Tính từ ngày 30/10/2021 đến ngày 25/9/2023), tiền nợ lãi quá hạn là 4.474.000 (Bốn triệu bốn trăm bảy mươi bốn nghìn) đồng (Tính từ ngày 30/10/2021 đến ngày 25/9/2023), tiền lãi chậm trả tính trên nợ lãi chậm trả: 193.000 (Một trăm chín mươi ba nghìn) đồng (Tính từ ngày 30/10/2021 đến ngày 25/9/2023) là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về thời hạn trả nợ:
Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T1 yêu cầu bị đơn ông Phạm Thanh T phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Xét, bị đơn ông Phạm Thanh T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong thời gian dài, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn, nên với yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Về tiền lãi sau ngày xét xử sơ thẩm:
Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T1 yêu cầu bị đơn ông Phạm Thanh T phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 3-001307 ngày 23/01/2019 cho đến khi thi hành án xong.
Căn cứ Điều 7 của hợp đồng tín dụng số 2-0002915/HĐTD ngày 30/10/2021: “Số nợ gốc, lãi tiền vay đến hạn mà bên vay không trả được hoặc trả không đầy đủ và không được Quỹ tín dụng cho cơ cấu lại thời gian trả nợ hoặc thời hạn cơ cấu lại nợ đã hết thì Q tín dụng sẽ chuyển toàn bộ dư nợ gốc thực tế kể cả phần dư nợ chưa đến hạn (nếu có) theo Hợp đồng này sang nợ quá hạn. Quỹ tín dụng sẽ áp dụng mức lãi suất tính đối với phần nợ gốc, tiền lãi vay không trả được tương tự như cách tính lãi chậm trả tại Khoản 2, Khoản 3, Điều 3 Hợp đồng này”.
Do đó, yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp với các quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về việc thay đổi và rút một phần yêu cầu khởi kiện: Ngày 16/02/2023 nguyên đơn khởi kiện ông Phạm Thanh T và ông Phạm Văn M trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số: 2-0002915/HĐTD ngày 30/10/2021 được ký kết giữa ông Phạm Thanh T và Quỹ tín dụng nhân dân T1. Ngày 16/6/2023 nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ có đơn đề nghị thay đổi và rút một phần yêu cầu khởi kiện, theo đó nguyên đơn rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với ông Phạm Văn M. Xét thấy việc rút lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với ông Phạm Văn M là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để đình chỉ xét xử đối với phần rút yêu cầu này.
Về án phí:
Bị đơn ông Phạm Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Áp dụng Luật Phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014,
Xử:
[1] Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ; bị đơn ông Phạm Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn M.
[2] Về nội dung:
[2.1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân T1.
Buộc ông Phạm Thanh T phải thanh toán tổng số tiền là: 29.833.400 (Hai mươi chín triệu tám trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm) đồng, trong đó số tiền nợ gốc là: 20.081.400 (Hai mươi triệu không trăm tám mươi mốt nghìn bốn trăm) đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 6.085.000 (Sáu triệu không trăm tám mươi lăm nghìn) đồng (Tính từ ngày 30/10/2021 đến ngày 25/9/2023), tiền nợ lãi quá hạn là 4.474.000 (Bốn triệu bốn trăm bảy mươi bốn nghìn) đồng (Tính từ ngày 30/10/2021 đến ngày 25/9/2023), tiền lãi chậm trả tính trên nợ lãi chậm trả: 193.000 (Một trăm chín mươi ba nghìn) đồng (Tính từ ngày 30/10/2021 đến ngày 25/9/2023).
Trả ngay một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[2.2] Kể từ ngày 26/9/2023 ông Phạm Thanh T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng số 2-0002915/HĐTD ngày 30/10/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ cho vay.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[3] Đình chỉ việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ về yêu cầu buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn M phải trả số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng số 2-0002915/HĐTD ngày 30/10/2021.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Phạm Thanh T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.491.670 (Một triệu bốn trăm chín mươi mốt nghìn sáu trăm bay mươi) đồng.
Hoàn trả lại số tiền án phí dân sự sơ thẩm cho Quỹ tín dụng nhân dân T1 là 1.240.400 (Một triệu hai trăm bốn mươi nghìn bốn trăm) đồng, theo biên lai thu số: AA/2021/0015671 ngày 17/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
[5] Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T1, bị đơn ông Phạm Thanh T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn M được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 1, 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKS ND Q.7; - Chi cục THADS Q.7; - Đương sự; - Lưu, hồ sơ (Tk. Vân Anh). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Lê Anh |