vanban.org

Bản án 383/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 18/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Thu P phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Vũ Thị Thu P 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Vũ Thị Thu P về Ủy ban nhân dân phường Trà Lý, tỉnh H Yên phối hợp cùng gia đình quản lý trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Thu P phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 383/2026/HSST
Ngày: 18/5/2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:

Ông Nguyễn Quốc Tuấn.

Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Quyên

Bà Dương Thị Thảo

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Mạnh – Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 345/2026/HSST ngày 22/4/2026; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 409/2026/QĐXXST- HS ngày 07/5/2026 đối với bị cáo:

Vũ Thị Thu P, sinh năm 2003 Giới tính: nữ; HKTT và chỗ ở: Thôn GL, phường TL, tỉnh HY; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông: Vũ Duy H, sinh năm: 1965; Con bà: Phạm Thị H, sinh năm 1970; Chồng, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)

Bị hại:

1. Anh Nguyễn Văn N; Sinh năm: 1992; Trú tại: CH2310 Tòa CT1, Chung cư C, phường XP, HN. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

2. Chị Nguyễn Thị D; Sinh năm: 1992; Trú tại: CH 1001, Tòa CT1, Chung cư C, phường XP, HN. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

3. Chị Nguyễn Thanh V; Sinh năm: 2000; Trú tại: CH1503, Tòa CT1, Chung cư C, phường XP, HN. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

4. Chị Nguyễn Thị M; Sinh năm:1989; Trú tại: P1903, Toà CT1, C phường XP, HN. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn ra tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 10/08/2025, Công an phường XP, HN tiếp nhận tố giác của anh Nguyễn Cao H (SN: 1994; HKTT: ĐT, HĐ, HN - là nhân viên shipper) và Ban quản lý tòa nhà cH cư CT1 C về việc phát hiện Vũ Thị Thu P có hành vi trộm cắp tài sản là các đơn hàng của cư dân do anh H ship đến được để tại khu vực kệ hàng trong phòng sinh hoạt cộng đồng sảnh tầng 1 Chung cư CT1, C, phường XP, HN.

* Vật chứng thu giữ của Vũ Thị Thu P: 01 chiếc tai nghe True Wireless Sound PEATS Ari 4 Pro, màu đen; 01 chiếc ổ cắm thông minh Lumi, màu trắng (BL 111)

* Ngày 10/8/2025, Vũ Thị Thu P tự nguyện giao nộp: 01 chiếc đồng hồ Relludar Version Smart Watch màu trắng có số IMEI: 876358511938568 kèm theo 01 dây sạc; 01 bộ tai nghe nhãn hiệu A.P.Pro 2 màu trắng. (Vũ Thị Thu P trình bày tài sản trên là do P lấy trộm ở phòng sinh hoạt cộng đồng); 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen - đỏ, BKS 17B1-179.65 số máy C43E-6467532, số khung RLHJC4325BY508100; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IphoneXS Max, màu Gold gắn sim số 0789.363.178.

Quá trình điều tra xác định:

Vào khoảng giữa tháng 7/2025, P có dặt 01 đơn hàng là tai nghe Bluetooth và do bấm nhầm địa chỉ nên P đã đặt chuyển về địa chỉ Chung cư C, đường 70, phường XP, thành phố HN. Khi đơn hàng dược chuyển về, người chuyển hàng báo để đơn hàng của P trên giá để hàng chung tại tầng 1 của phòng sinh hoạt cộng đồng tòa CT1 Chung cư C. Do không tìm được hàng dã đặt mua nên đến ngày 18/7/2025 P được hoàn tiền đơn hàng đã đặt mua trên. P phát hiện sau khi xác nhận dã giao hàng cho cư dân, người giao hàng thường để hàng hóa của cư dân tập trung tại kệ sắt ở phòng sinh hoạt chung tại tầng 1 tòa chung cư CT1, C và không có bảo vệ trông giữ tài sản nên P nảy sinh ý định trộm cắp các đơn hàng của cư dân mang về sử dụng.

Từ ngày 14/7/2025 đến ngày 10/8/2025, Vũ Thị Thu P dã thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản như sau:

1. Lần thứ nhất: Khoảng 12 giờ 08 phút ngày 14/7/2025, Vũ Thị Thu P điều khiển xe máy Honda Wave, màu den BKS 17B1-179.65 mặc áo chống nắng, đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang đến chung cư C, phường XP, HN. P đỗ xe máy ở ngoài sảnh tầng 1 sau đó di bộ vào phòng sinh hoạt cộng đồng nơi để tập trung hàng hóa của cư dân được ship đến.

P quan sát trong phòng không có ai, nên tiến gần lại giá kê đồ ship của cư dân và tìm những đồ ship nhỏ gọn, có giá trị sử dụng, P lục tìm thấy sản phẩm đồng hồ deo tay thông minh, mã đơn hàng SPX VN052427021637 của anh Nguyễn Văn N (SN 1992; Địa chỉ: CH2310 Tòa CT1, Chung cư C, phường XP, HN) trị giá 943.000 đồng cho vào túi xách mang theo người rồi đi ra khỏi chung cư.

2. Lần thứ hai: Đến ngày 21/7/2025, P tiếp tục dến chung cư C và dùng thủ đoạn như trên lấy trộm 01 chiếc tai nghe Bluetooth A.P.Pro 2 trị giá 213.333 đồng của chị Nguyễn Thanh V (SN 2000; Địa chỉ: CH1503, Tòa CT1, Chung cư C, phường XP, HN).

3. Lần thứ ba: khoảng 11 giờ 30 phút ngày 10/8/2025, P diều khiền xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu Đen, BKS: 17B1-179.65, mặc áo chống nắng, đeo khẩu trang và đeo theo chiếc túi xách có quai màu đen đến Chung cu CTI C vào khu vực phòng sinh hoạt cộng đồng nơi để tập trung hàng hóa của cư dân được shịp đến để trộm cắp tài sản, P quan sát thấy trong phòng cộng đồng không có ai nên tiến gần lại giá kê để đồ của cư dân và trộm cắp 01 hộp giấy cát tông màu vàng, dán băng dính, bên ngoài có ghi nội dung "Tai nghe Bluetooth" trị giá 1.233.000 đồng của chị Nguyễn Thị D (SN 1992; Địa chỉ: CH 1001, Tòa CT1, Chung cư C, phường XP, HN ) và 01 hộp giấy cát tông khác bên ngoài ghi "O CAM THONG MINH DIEU KHIEN" trị giá 233.000 đồng của chị Nguyễn Thị M (SN 1989; Địa chỉ: P704, Chung cư No10, GB, LB, HN). Sau khi lấy 02 hộp hàng, P kẹp ở nách bên trái và di ra khỏi phòng sinh hoạt cộng đồng thì bị anh Nguyễn Cao H (SN 1994; NKTT: Làng ĐT, xã HĐ, HN là nhân viên shipper) phát hiện giữ lại và trình báo đến Công an phường XP, HN.

Lời khai nhận tội của Vũ Thị Thu P phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người liên quan, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các tài liệu điều tra khác.

Cáo trạng số 139/CT-VKSKV4 ngày 20/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 Hà Nội truy tố bị cáo Vũ Thị Thu P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ lời khai của bị cáo, người bị hại, có đủ căn cứ kết luận: Vũ Thị Thu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Vũ Thị Thu P từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát luận tội, bị cáo bào chữa: Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa P như đề nghị của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an TP Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Từ ngày 14/7/2025 đến ngày 10/8/2025, tại phòng sinh hoạt cộng đồng tòa CT1 Chung cư C, phường XP, HN, Vũ Thị Thu P có hành vi trộm cắp: 01 chiếc đồng hồ deo tay thông minh lắp sim S16 promax Genu 32/64/128Gb loại 2+, 16Gb màu bạc trị giá 943.000đ của anh Nguyễn Văn N; 01 chiếc tai nghe Bluetooth A.P.Pro 2 trị giá 213.333 đồng của chị Nguyễn Thanh V; 01 bộ Tai nghe Bluetooth trị giá 1.233.000 đồng của chị Nguyễn Thị D và 01 ổ cắm thông minh điều khiển trị giá 233.000 đồng của chị Nguyễn Thị M.

Tổng trị giá tài sản Vũ Thị Thu P trộm cắp là 2.622.333 đồng.

Xét thấy hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt tài sản trị giá 2.622.333 đồng của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nhân thân chưa tiền án, tiền sự, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản chiếm đoạt không lớn. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo được cải tạo tại địa P theo quy định tại Điều 65 BLHS là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Ngày 14/01/2026, Cơ quan điều tra đã có quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả chị Nguyễn Thị M 01 chiếc ổ cắm thông minh Lumi màu trắng; trao trả cho chị Nguyễn Thị D 01 chiếc tai nghe True Wireless Sound PEATS Ari 4, Pro màu đen; trao trả cho chị Nguyễn Thanh V: 01 chiếc tai nghe Bluetooth A.P.Pro 2, màu trắng; trao trả cho anh Nguyễn Văn N 01 chiếc đồng hồ đeo tay thông minh lắp sim S16 Promax Gen 4 32/64/128Gb loại 2+, 16Gb màu bạc. Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự nên không giải quyết.

Quá trình điều tra xác định 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen - đỏ, BKS 17B1-179.65; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IphoncXS Max, màu Gold gắn sim số 0789.363.178 thu giữ của Vũ Thị Thu P là của bà Phạm Thị Hiền nên ngày 11/8/2025, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội trao trả tài sản cho bà Phạm Thị Hiền, do vậy giải quyết.

Bị cáo được quyền kháng cáo và chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Thu P phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt:

Vũ Thị Thu P 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Vũ Thị Thu P về Ủy ban nhân dân phường Trà Lý, tỉnh H Yên phối hợp cùng gia đình quản lý trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thị D, chị Nguyễn Thanh V và chị Nguyễn Thị M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.\

Cỡ chữ