vanban.org

Bản án 383/2023/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 06/12/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích T về việc Buộc bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Nguyễn Thị Bích T với tổng số tiền l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T.
  • Căn cứ chính? Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 584 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 383/2023/DS-PT
Ngày 06 - 12 - 2023
V/v: Tranh chấp về yêu cầu bồi
thường thiệt hại do sức khỏe bị
xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Tú

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Đức và ông Nguyễn Duy Thuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Duyên – Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Ngụ Văn Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 347/2023/TLPT-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023, về “Tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 302/2023/QĐ-PT, ngày 27/10/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1976

Địa chỉ: Số D đường T, tổ dân phố B, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Số C đường L, tổ dân phố B, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1973

Địa chỉ: Số nhà A, thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

3. Người kháng cáo:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Bích T khai: Vào ngày 04 tháng 11 năm 2021, tôi có thực hiện tiểu phẫu nâng cung mày tại trung tâm làm đẹp mang tên Beautiful Hà N, có địa chỉ tại số C L, tổ dân phố B, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk do bà Nguyễn Thị H làm chủ.

Sau khi thực hiện liệu trình làm đẹp nói trên tại trung tâm làm đẹp của bà H thì không hiểu lý do tại sao, trên phần mắt của tôi xuất hiện các triệu chứng xấu, cụ thể là tôi không thể nhắm mắt hay chớp mắt như bình thường, do lo lắng nên tôi đã đi khám tại bệnh viện Đ, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 30/12/2021 thì được các bác sĩ cho biết vùng mắt của tôi bị ảnh hưởng do việc phẫu thuật nói trên gây nên.

Ngày 22/6/2022, tại Phòng Y tế huyện K, tỉnh Đắk Lắk đã tiến hành giải quyết tranh chấp giữa tôi và bà Nguyễn Thị H, nhưng tôi và bà H vẫn không tìm được tiếng nói chung. Thời điểm bà H tiến hành phẫu thuật cho tôi thì Cơ sở kinh doanh của bà H chưa được cấp giấy chứng nhận kinh doanh. Do sức khỏe của tôi bị bà Nguyễn Thị H xâm phạm. Nên tôi đã làm đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị H đến Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

Quá trình làm việc tại Tòa án, tôi đã có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định thương tật của tôi do bà Nguyễn Thị H gây nên và Tòa án đã có Quyết định trưng cầu giám định gửi Trung tâm pháp y tỉnh Đ để thực hiện việc giám định thương tật của tôi theo quy định. Ngày 01/8/2023, Trung tâm pháp y tỉnh Đ đã có văn bản gửi Tòa án về việc từ chối giám định pháp y theo văn bản số 356/CV-TTPY, với nội dung “không đủ cơ sở khoa học và pháp lý để tiến hành giám định trong trường hợp này”. Với nội dung từ chối giám định của Trung tâm pháp y tỉnh Đ thì tôi không có ý kiến gì. Mặc dù Cơ quan giám định không giám định được tỷ lệ thương tật (tổn thương hai mắt) của tôi là do bà H gây nên. Tuy nhiên tôi vẫn giữ nguyên nội dung mà tôi đã khởi kiện đối với bà H tại Tòa án. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho tôi với tổng số tiền là 64.200.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu hai trăm nghìn đồng). Cụ thể từng khoản như sau: Tiền thuốc men: 5.000.000đồng (Năm triệu đồng); T2 thuê xe đi lại khám mắt 6 lượt đi và về x 800.000 đồng/lượt = 4.800.00đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng); Tiền công không lao động được trong những ngày đi lại khám mắt và điều trị: 15 ngày x 300.000 đồng/ngày = 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng); Tiền tổn thất tinh thần 10 tháng lương tối thiểu, mỗi tháng là 1.490.000 đồng. T3 tiền là 14.900.000 đồng (Mười bốn triệu, chín trăm nghìn đồng); T2 tiểu phẫu lại cung chân mày, cấy mỡ mắt...: 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng). Ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.

* Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Thanh T1 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Với toàn bộ nội dung khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích T đối với bà Nguyễn Thị H thì bà Nguyễn Thị H hoàn toàn không đồng ý. Lý do không đồng ý như sau:

Thứ nhất: Ngày 04/11/2021, bà H có thực tập, thể nghiệm, xóa bỏ đuôi và treo khung chân mày cho bà T là do bà T tự nguyện yêu cầu. Bà H không có nhu cầu làm đẹp cho bà T khi bà H chưa có Giấy chứng chỉ hành nghề, chưa có Giấy phép kinh doanh, nên bà H không có ký hợp đồng làm đẹp với bà T, không có ký Giấy cam kết chịu trách nhiệm về việc xóa bỏ đuôi và treo khung chân mày cho bà T. Hơn nữa bà H không có lấy tiền công làm đẹp, mà chỉ lấy tiền mua dụng cụ làm đẹp, thuốc bôi tê theo thỏa thuận với bà T trước khi bà H thực hiện công việc làm đẹp cho bà T. Do đó không có cơ sở để cho bà T khởi kiện bà H.

Thứ hai: Căn cứ theo Biên bản làm việc ngày 22/06/2022 của Trung tâm y tế huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Cho thấy bà H trình bày: trước khi luồn kim xóa đuôi mày cho bà T, có khai thác tiền sử bà T có cắt mí mắt hai bên được 15 năm tại Phòng khám bác sĩ N1, tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và cắt mí mắt hai bên 07 năm tại Phòng khám B tại thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi bà H tiến hành luồn kim xóa đuôi mày cho bà T, cứ 15 ngày bà T đến cho bà H theo dõi mắt 1 lần, bà T đến cho bà H theo dõi mắt 03 lần, mắt của bà T không có triệu chứng bất thường. Do đó không có cơ sở để cho bà T khởi kiện bà H.

Thứ ba: Do bà T không trả 2.500.000 đồng cho bà H, nên bà T viện cớ đến Trung tâm L thực hiện lộ trình làm đẹp và không hiểu lý do tại sao trên phần mắt của bà T xuất hiện các triệu chứng xấu, không thể nhắm mắt hay chớp mắt như bình thường, nên bà T đến khám tại Bệnh viện Đ thì được các bác sĩ cho biết vùng mắt của bà T bị ảnh hưởng do việc phẩu thuật nói trên gây ra. Nhưng bà T không có cung cấp cho Tòa án kết luận của Bệnh viện Đ về việc tác nhân gây hại vùng mắt của bà T là do bà H gây ra. Bà T cũng không trưng cầu được kết quả giám định thương tật tại Trung tâm giám định pháp y về tác nhân gây hại vùng mắt của bà T là do bà H gây ra. Đề nghị bà T cung cấp kết quả giám định thương tật tại cung mày mắt để chứng minh tác nhân gây hại mắt của bà T là do bà H nên.

Ngày 04/11/2021 bà T đã tự nguyện đề nghị bà H thực tập, thí nghiệm, xóa bỏ đuôi và treo khung chân mày cho bà T nhưng đến ngày 23/05/2023 bà T mới khởi kiện bà H là không phù hợp.

Sau khi bà T có đơn đề nghị Tòa án Trưng cầu giám định thương tật tại cung mày mắt của bà và Tòa án đã có Quyết định trưng cầu giám định theo quy định. Ngày 01/8/2023, Trung tâm pháp y tỉnh Đ đã có Văn bản số 356/CV-TTPY về việc từ chối giám định pháp y, với nội dung “không đủ cơ sở khoa học và pháp lý để tiến hành giám định trong trường hợp này”. Như vậy bà T không có cơ sở khẳng định về việc tác nhân gây hại vùng mắt của bà T là do bà H gây ra.

Do đó bị đơn bà Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích T đối với bà Nguyễn Thị H.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 54/2023/DS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc đã quyết định:

Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật dân sự;

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích T về việc Buộc bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Nguyễn Thị Bích T với tổng số tiền là 64.200.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu hai trăm nghìn đồng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 21/9/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Păc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu chứng cứ lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên:

Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định, nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Xét thấy, tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

Về nội dung:

Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bích T cho rằng sau khi bà H phẫu thuật cắt treo cung mày mắt cho bà T làm mắt bà T bị hư, không nhắm được nên bà T yêu cầu bà H phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với tổng số tiền là 64.200.000 đồng, thì thấy:

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận, vào ngày 04 tháng 11 năm 2021, tại cơ sở làm đẹp B bà Nguyễn Thị H làm chủ, bà Nguyễn Thị H có thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ nâng cung mày “cắt treo cung mày mắt” cho bà Nguyễn Thị Bích T.

Sau khi phẫu thuật được khoảng một tuần, bà T cho rằng mắt của bà không được bình thường và bị hư, mắt không thể nhắm hay chớp mắt như bình thường được nên đã thông báo cho bà H nhưng bà T không đến bệnh viện để kiểm tra, không nằm viện điều trị ngay sau khi có triệu chứng. Đến ngày 30/12/2021, bà T mới đến bệnh viện Đ để thăm khám, tại thời điểm bà T khám mắt tại bệnh viện Đ bà đã cung cấp thông tin bà bị treo cung mày 2,5 tháng nên bác sĩ khám của bệnh viện đã ghi nội dung với chẩn đoán “2 mắt: Khô mắt/Rung giật mi/Tiền sử treo cung mày 2,5 tháng (cấp đơn thuốc và hẹn tái khám)” thông tin của bà T cung cấp cho bác sĩ không đúng về thời gian bà làm phẫu thuật thẩm mỹ mắt tại cơ sở của bà H.

Mặt khác, tại biên bản làm việc ngày 22/6/2022 tại Phòng y tế huyện K giữa bà T với bà H thì bà H có khai “Trước khi tiến hành luồn kim xóa đuôi mày, có khai thác tiền sử là có cắt mí mắt hai bên được 15 năm tại phòng khám B1. Thành phố B và cắt mí mắt hai bên (7 năm tại phòng khám B) tại thị trấn P, K. Sau đó tiến hành luồn kim xóa đuôi mày cho bà Nguyễn Thị Bích T. Theo dõi thời gian sau mắt không có vấn đề gì. Chị T đến cơ sở 3 lần/15 ngày để theo dõi và làm các dịch vụ về chăm sóc da liên tục...

Cũng tại văn bản số 356/CV-TTPY ngày 01/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đã từ chối giám định pháp y, với nội dung “không đủ cơ sở khoa học và pháp lý để tiến hành giám định trong trường hợp này”.

Như vậy, bà T không cung cấp được tài liệu chứng cứ, chứng minh được tổn thương mắt của bà là do chính bà H gây nên. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích T đối với bà Nguyễn Thị H là có căn cứ, nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên bà T được miễn tiền án phí theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

- Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật dân sự;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích T về việc Buộc bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Nguyễn Thị Bích T với tổng số tiền là 64.200.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu hai trăm nghìn đồng), gồm các khoản: Tiền thuốc men: 5.000.000đồng; T2 thuê xe đi lại khám mắt 6 lượt đi và về x 800.000 đồng/lượt = 4.800.00đồng; tiền công không lao động được trong những ngày đi lại khám mắt và điều trị: 15 ngày x 300.000 đồng/ngày = 4.500.000 đồng; Tiền tổn thất tinh thần 10 tháng lương tối thiểu, mỗi tháng là 1.490.000 đồng. T3 tiền là 14.900.000 đồng (Mười bốn triệu, chín trăm nghìn đồng); T2 tiểu phẫu lại cung chân mày, cấy mỡ mắt...: 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Bích T được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ