- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị H kiện Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 382/2020/HNGĐ-ST Ngày 24/6/2020 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Văn Bé.
2. Ông Lê Văn Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Duy Ngọc Thái – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 184/2020/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị H, sinh năm: 1995 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, Tiền Giang.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 04/3/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Phan Thị H trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn T chung sống với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lý Tây, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang vào ngày 08/12/2017. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, có nhiều xung đột, vợ chồng đã cố hàn gắn nhưng không được nên ông bà đã ly thân từ cuối năm 2019 đến nay. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Cho bà ly hôn với ông T.
- Về con chung: Có 01 con tên Nguyễn Ngọc Vân Anh, sinh ngày 15/01/2019, hiện đang sống chung với bà H. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Anh, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Ông Nguyễn Văn T vắng mặt dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, ông T cũng vắng mặt.
Tại phiên tòa, bà H trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T thường xuyên nhậu nhẹt, không chăm lo cho gia đình, bà đã nhiều lần khuyên nhưng không được nên ông bà đã ly thân từ đầu năm 2019 đến nay. Các vấn đề còn lại, bà H vẫn giữ yêu cầu và ý kiến như đã trình bày trước đây.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng. Về nội dung: Do bà H, ông T có mâu thuẫn kéo dài, ly thân từ đầu năm 2019 mà không có biện pháp hàn gắn tình cảm, đồng thời trong suốt quá trình tố tụng ông T cũng vắng mặt chứng tỏ ông không có ý hàn gắn với bà H, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho bà H ly hôn với ông T. Về con chung: Do bà H trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ông bà ly thân, bà H có nơi ở và thu nhập ổn định, cháu Nguyễn Ngọc Vân Anh dưới 36 tháng tuổi theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi cháu Anh của bà H. Tại phiên tòa, bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Phan Thị H khởi kiện ông Nguyễn Văn T yêu cầu ly hôn nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa bà H và ông T là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Ông Nguyễn Văn T vắng mặt dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên Tòa án xét xử vắng mặt ông theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy, bà Phan Thị H và ông Nguyễn Văn T sống chung năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lý Tây, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang vào ngày 08/12/2017 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 76, như vậy hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Quá trình sống chung hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do ông T thường xuyên nhậu nhẹt, không chăm lo cho gia đình. Bà H yêu cầu được ly hôn, ông T vắng mặt nên không có ý kiến về vấn đề này. Nhận thấy, bà Phan Thị H và ông Nguyễn Văn T có phát sinh mâu thuẫn kéo dài, sống ly thân từ đầu năm 2019. Trong thời gian ly thân, ông bà không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm, đồng thời trong suốt quá trình tố tụng ông T cũng vắng mặt chứng tỏ ông không có ý hàn gắn với bà H. Do mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho bà H được quyền ly hôn với ông T.
Về con chung: Có 01 con tên Nguyễn Ngọc Vân Anh, sinh ngày 15/01/2019, hiện đang sống chung với bà H. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Anh, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử nhận thấy, cháu Anh do bà H trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ông bà ly thân, bà H có nơi ở và thu nhập ổn định, cháu Anh dưới 36 tháng tuổi theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi nên cần giao cháu Anh cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bà H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H.
1. Về hôn nhân: Cho bà Phan Thị H được quyền ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Vân Anh, sinh ngày 15/01/2019 cho bà Phan Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
3. Về án phí: Bà Phan Thị H phải chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0002517 ngày 09/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, xem như đã nộp xong.
Bà H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - UBND xã Tân Lý Tây; - Các đương sự; - Lưu./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Huy Vũ |