vanban.org

Bản án 382/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/05/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ông Lê Thanh H1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A 35.

Ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng Thương mại cổ phần A không yêu cầu ông Lê Thanh H1 phải trả lãi tiếp tục phát sinh từ sau ngày 30/5/2018 cho đến khi trả dứt nợ. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Thanh H1 phải chịu án phí sơ thẩm là 1.777.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP A khởi kiện ông Lê Thanh H"
  • Tòa quyết gì? Ông Lê Thanh H1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A 35.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 382/2018/DS-ST
Ngày: 30-5-2018
V/v “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Kim Yến

Bà Nguyễn Thị Liên Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trúc Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2018, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 530/2017/TLST- DS ngày 14 tháng 12 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2018/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần A. Địa chỉ: đường B, phường C, quận I, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Phan Thị Mỹ H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 17 tháng 4 năm 2017).

Địa chỉ: đường N, phường M, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Lê Thanh H1. Địa chỉ: đường E, Phường F, quận G Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 17 tháng 4 năm 2017, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần A và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Phan Thị Mỹ H đều trình bày: Ngày 10/02/2015, ông Lê Thanh H1 có ký Hợp đồng tín dụng số 20150226-801002-0036 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần A và được ngân hàng duyệt cho vay số tiền 26.250.000 đồng, lãi suất 3,75%/tháng, hình thức tín chấp. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, ông H1 có trách nhiệm thanh toán số tiền 40.574.000 đồng (gồm cả gốc và lãi) trả chậm trong 24 tháng, bắt đầu từ ngày 01/04/2015. Thực hiện theo hợp đồng, ông H1 đã nhận đủ số tiền và thanh toán cho ngân hàng 03 lần với tổng số tiền đã trả là 5.034.000 đồng (trong đó có 2.018.604 đồng tiền gốc, 3.015.369 đồng tiền lãi). Kể từ ngày 01/10/2015, ông H1 không thanh toán cho ngân hàng. Do ông H1 trễ hạn thanh toán nên ngân hàng khởi kiện ông H1 tại Tòa. Tính đến ngày 30/5/2018, dư nợ của ông H1 như sau: Nợ gốc còn lại 24.231.396 đồng và nợ lãi 11.308.604 đồng, tổng cộng 35.540.000 đồng. Ngân hàng chỉ yêu cầu ông H1 có trách nhiệm trả đúng số tiền 35.540.000 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, ngân hàng không yêu cầu ông H1 phải trả tiền lãi tiếp tục phát sinh từ sau ngày 30/5/2018 cho đến khi trả dứt nợ.

Bị đơn, ông Lê Thanh H1 vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát. Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả nợ, đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại quận Tân Bình, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 22/01/2015 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần A và ông Lê Thanh H1; vào Tờ phê duyệt của Ngân hàng thì số tiền vay được phê duyệt là 26.250.000 đồng, thời hạn vay 24 tháng, lãi suất 3,75%/tháng, có đủ cơ sở xác định ông H1 đã vay của Ngân hàng số tiền trên.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn được số tiền 5.034.000 đồng, trong đó tiền gốc đã trả là 2.018.604 đồng, lãi đã trả 3.015.396 đồng. Như vậy, tính đến ngày 30/5/2018, bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền gốc là 24.231.396 đồng chưa trả nên bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn.

Về tiền lãi: Bị đơn chỉ trả được 03 kỳ tiền lãi cho nguyên đơn với số tiền là 3.015.396 đồng, kể từ ngày 01/10/2015 cho đến nay bị đơn không trả lãi. Tại phiên tòa, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi còn nợ là 11.308.604 đồng và không yêu cầu bị đơn phải trả lãi tiếp tục phát sinh từ sau ngày 30/5/2018 cho đến khi trả dứt nợ.

Như vậy, tổng cộng số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 35.540.000 đồng (gồm 24.231.396 đồng gốc và 11.308.604 đồng tiền lãi).

Về thời hạn: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thanh toán ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm là 35.540.000 đồng x 5% = 1.777.000 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí, hoàn lại án phí tạm nộp cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 177 ; điểm b khoản 2 Điều 227 ; khoản 3 Điều 228 ; Điều 273, 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 471, 474 Bộ luật dân sự 2005; Điều 26 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;.

1. Ông Lê Thanh H1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A 35.540.000 đồng (bao gồm nợ gốc 24.231.396 đồng, nợ lãi 11.308.604 đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng Thương mại cổ phần A không yêu cầu ông Lê Thanh H1 phải trả lãi tiếp tục phát sinh từ sau ngày 30/5/2018 cho đến khi trả dứt nợ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Thanh H1 phải chịu án phí sơ thẩm là 1.777.000 đồng.

Ngân hàng Thương mại cổ phần A được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 888.500 đồng theo biên lai thu tiền số 0003710 ngày 03/5/2017 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 3.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ