vanban.org

Bản án 380/2024/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 16/07/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/07/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hông chấp nhận y u cầu kháng cáo của bà Huỳnh Th N, Ngân hàng TMCP Q1 và bà Ngô Th T2.

Giữ nguy n bản án dân sự sơ thẩm. Chấp nhận một phần y u cầu kh i kiện của bà Huỳnh Th N về việc hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/6/2016 giữa bà Huỳnh Th N với ông Nguyễn Minh T1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng tín dụng và tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại"
  • Tòa quyết gì? hông chấp nhận y u cầu kháng cáo của bà Huỳnh Th N, Ngân hàng TMCP Q1 và bà Ngô Th T2.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 106 Luật Đất đai
T A N NH N D N
TỈNH ĐỒNG TH P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 380/2024/DS-PT
Ngày: 16-7-2024
V/v tranh chấp hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, tranh chấp hợp đồng tín
dụng và tranh chấp hợp đồng
kinh doanh thương mại.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N D N TỈNH ĐỒNG TH P

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Nguyễn Ng c Vạng.

Các Thẩm phán:

ng Nguyễn Chí Dững;

ng Đinh Chí Tâm.

- Thư ký phiên tòa: ng Nguyễn Bảo Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp.

- i i n i n i m t nh n n t nh ồng Th p: Bà Trần Th Điểu

- iểm sát vi n tham gia phi n tòa.

Trong các ngày 26/6 và 16/7/2024, tại trụ s Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 165/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng tín dụng và tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười b kháng cáo.

Theo quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 326/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguy n đơn:

1.1. Bà Huỳnh Th N, sinh năm 1946; Đ a ch : Ấp A, xã M, huyện T, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N: Luật sư L Văn L, Văn phòng Luật sư Phạm Minh T – Chi nhánh T8; Đ a ch : Số A, đường L, hóm C, th trấn M, huyện T, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)

1.2. Ngân hàng N1.

Người đại diện theo pháp luật: ng Tr nh Ng c ; chức vụ: Chủ t ch Hội đồng thành vi n.

Đ a ch : Số B, đường L, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: ng Nguyễn Thanh P; chức vụ: Giám đốc Ngân hàng A – Chi nhánh huyện T8.

Đ a ch : hóm C, th trấn M, huyện T, t nh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của ông P:

Ông Võ Hoàng D; chức vụ: Trư ng Phòng Tín dụng A – Chi nhánh huyện T8. (Có mặt ngày 26/6, vắng mặt ngày 16/7).

Bà Nguyễn Th Trúc L1, chức vụ: Tổ trư ng tổ khách hàng PGD hu vực T (Có mặt ngày 16/7/2024)

1.3. Ngân hàng TMCP Q1.

Đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Th Thanh H, chức vụ: Chủ t ch Hội đồng quản tr .

Đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Nguyễn Hữu C, chức vụ: Trư ng phòng xử lý nợ M- Trung tâm xử lý nợ - Ngân hàng TMCP Q1.

Đại diện theo ủy quyền của ông C:

Ông Trần Hoàng V, chức vụ: Trư ng bộ phận xử lý nợ- Trung tâm xử lý nợ; Đ a ch : Số A - A, đường N, Phường G, thành phố M, t nh Tiền Giang. (Vắng mặt)

Đ a ch li n hệ: Số B, đường C, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.

Ông Mạc Phong V1 chức vụ: Chuy n vi n xử lý nợ- Trung tâm xử lý nợ; Đ a ch : Số B, đường C, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ. (Có mặt ngày 26/6, vắng mặt ngày 16/7)

2. B đơn:

2.1. Nguyễn Minh T1, sinh năm 1991 (Vắng mặt)

2.2. Mai Th Hồng E, sinh năm 1990 (Vắng mặt)

Đ a ch : hóm B, th trấn M, huyện T, t nh Đồng Tháp.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan:

3.1. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1956 (Vắng mặt)

3.2. Ngô Th T2, sinh năm 1971 (Vắng mặt)

3.3. Ngô Th Đ, sinh năm 1972 (Vắng mặt)

3.4. Nguyễn Th Ng c T3, sinh năm 1979 (Vắng mặt)

3.5. Nguyễn Văn T4, sinh năm 1980 (Vắng mặt)

3.6. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1984 (Vắng mặt)

3.7. Nguyễn Th Thúy O, sinh năm 1987 (Vắng mặt)

3.8. Nguyễn Minh V2, sinh năm 1989 (Vắng mặt)

3.9. Nguyễn Th T5, sinh năm 1993 (Vắng mặt)

Cùng đ a ch : Ấp A, xã M, huyện T, t nh Đồng Tháp.

4. Người kháng cáo:

Bà Huỳnh Th N là nguy n đơn.

Ngân hàng TMCP Q1 là nguy n đơn.

Bà Ngô Th T2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan.

NỘI DUNG VỤ N:

- Nguyên đơn bà Huỳnh Thị N có người đại diện theo ủy quyền anh Lê Văn L trình bày: Vào ngày 23/6/2016, do cần tiền mua đất canh tác n n con gái bà là Ngô Th T2 và bà N có đến hỏi vay của anh Nguyễn Minh T1 số tiền là 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng) thỏa thuận thời hạn đóng lãi là 3 tháng đóng 1 lần, lãi suất thoả thuận là 1%/1tháng. Anh T1 y u cầu bà chuyển quyền sử dụng đất để làm tin, trường hợp bà N không trả thì anh T1 sẽ chuyển bán phần đất tr n để thu hồi tài sản (thời hạn thỏa thuận chuyển nhượng là 01 năm), các thửa đất số 3, 444, 10, 9, 8, 86 và thửa 456 cùng tờ bản đồ số 03, tổng diện tích là 44.578 m2, đất t a lạc tại ấp A, xã M, huyện T, t nh Đồng Tháp.

Ngày 27/6/2016, anh T1 kêu bà N ra Ủy ban nhân dân xã M ký giấy chuyển nhượng giữa bà và anh T1, (theo bà trước đó là hợp đồng miệng thỏa thuận ch 1 năm khi nào bà có tiền trả thì chuộc lại anh T1 sẽ trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà). Bản thân bà không biết đ c chữ, n n tin tư ng ký vào hợp đồng đó.

Số tiền 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng) thực chất ch T2 ch nhận số tiền là 117.000.000đ (Một trăm mười bảy triệu đồng), do con gái bà vay và sử dụng, các lần đóng lãi do ch T2 đi đóng lãi tại nhà của anh T1 và có trả cho anh T1 được số tiền là 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng). Do nhà ch T2 nhà cùng vách với nhà của bà n n mỗi lần đi đóng lãi và trả tiền bà đi cùng có biết. Đến khoảng tháng 2 năm 2017, thì do có điều kiện n n ch T2 con gái bà N có đi gửi trả cho anh T1 số tiền còn lại nhưng T1 không nhận và có cho bà và ch T2 hỏi vay mượn th m số tiền 130.000.000đ, (một trăm ba mươi triệu đồng) tổng số tiền mượn 2 lần là 210.000.000đ, (hai trăm mười triệu đồng), trong đó T2 mượn 110.000.000đ (một trăm mười triệu đồng) và bà N mượn số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng),việc vay mượn th m lần 2 ch thoả thuận miệng).

Đến ngày 21/6/2017, do cần tiền để nhận lại quyền sử dụng đất, n n bà N và ch T2 đi vay b n ngoài có tiền có trả cho anh T1 số tiền còn thiếu là 210.000.000đ (hai trăm mười triệu đồng) và anh T1 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà đi vay thế chấp Ngân hàng, nhưng khi bà N đến Ngân hàng làm thủ tục vay thì cán bộ Ngân hàng cho bà biết là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà b mất trang tư (trang bổ sung) n n không nhận.

hi hay sự việc bà N có đến Phòng Tài nguy n và Môi trường huyện T để xin trích lục về thông tin các thửa đất tr n, thì được Cán bộ đây báo là đất bà đã chuyển nhượng cho anh T1, anh T1 đã đem đi thế chấp Ngân hàng. Đất hiện nay bà đang canh tác nhưng anh T1 lừa gạt đứng t n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà các thửa đất tr n.

Biết được sự việc tr n, sau đó bà N và ch T2 có đến nhà anh T1 y u cầu anh T1 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi đó anh T1 năn n nói với bà N là “chổ làm ăn quen biết n n đừng làm lớn chuyện”, anh T1 đưa lại cho bà số tiền 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng) để bà đóng lãi tiền ngày mà bà đã hỏi vay 210.000.000đ (hai trăm mười triệu đồng) mà bà trả cho anh T1, anh T1 hứa 10 ngày sau sẽ làm thủ tục chuyển nhượng lại cho bà, nhưng cho đến nay anh T1 không chuyển quyền sử dụng đất lại cho bà, mà cố tình lẫn tránh.

Nay, anh L đại diện theo ủy quyền của bà N y u cầu Toà án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng ngày 27/6/2016 giữa bà Huỳnh Th N và anh Nguyễn Minh T1, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 3, 444, 10, 9, 8, 86, 456, tờ bản đồ số 03, tổng diện tích là 30.235m2, đất t a lạc tại ấp A, xã M, Đồng Tháp. (Đối với phần đất thửa số 3 đất (CD ) thì bà N rút lại không y u cầu vì thửa đất tr n vì theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 27/6/2016 chưa chuyển nhượng cho anh T1 và thửa 86 thì Nhà nước đã thu hồi và 1 phần do khi đó giấy chứng nhận trang 4 anh T1 đã giữ n n bà N không biết.

Các chứng cứ nguyên đơn cung cấp bao gồm: 01 (một) giấy mua bán đất giữa ông Huỳnh Văn Đ1 và ông Nguyễn Văn V3 (bản photo); 01 (một) Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa hộ bà Huỳnh Th N và anh Nguyễn Minh T1 ngày 27/6/2016 (bản sao y); bao gồm 05 thửa cụ thể như sau: thửa 444,10,9,8,456 có dt là 30.235 m2, trong đó thửa 444, diện tích trong đó 800m2 cây lâu năm, giá chuyển nhượng tất cả số tiền là 1.300.000.000đ (một t ba trăm triệu đồng); 01 (một) Trích lục bản đồ đ a chính khu vực đất tranh chấp giữa bà N và anh T1 đề ngày 28/8/2017 (bản chính); 01 (một) Giấy chứng nhận QSDĐ của hộ bà Huỳnh Th N (bản chính không có trang 4, trang bổ sung); 01(một) Hợp đồng hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 19/5/2016 giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn H2 và ông Nguyễn Văn C1 (bản chính); 01 (một) Hồ sơ cấp QSDĐ cho Nguyễn Minh T1 (bản sao y); 01 (một); Bi n nhận trả nợ giữa bà Huỳnh Th N và anh Nguyễn Minh T1 (bản chính); 01 (một) Bi n nhận nợ giữa ông Nguyễn Văn H2 và Nguyễn Minh T1 (bản chính).

- Nguyên đơn Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện T8 có người đại diện theo ủy quyền là anh Võ Hoàng D trình bày: Vào ngày 24/3/2017 anh Nguyễn Minh T1 và ch Mai Th Hồng E có vay vốn tại Ngân hàng A - Chi nhánh huyện T8 theo hợp đồng tín dụng số 6505LAV201704638 ngày 17/4/2017, số tiền vay 1.000.000.000đ (một t đồng), mục đích vay để kinh doanh mua bán thức ăn. Sau khi vay thì anh T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay như đã ký kết, do đó, Ngân hàng A – Chi nhánh huyện T8 y u cầu anh Nguyễn Minh T1 và ch Mai Th Hồng E thanh toán nợ vay gốc và lãi tạm tính đến ngày kh i kiện số tiền là 1.076.750.000đ (một t , không trăm bảy mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) và y u cầu tiếp tục tính lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 6505LAV201704638 ngày 17/4/2017 đến khi trả nợ xong. Trường hợp vợ chồng anh T1 không trả thì Ngân hàng có quyền y u cầu phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất thửa số 08, 09,10, 456, tờ bản đồ số 03, tổng diện tích là 29.135m2, đất t a lạc tại ấp A, xã M, Đồng Tháp do anh Nguyễn Minh T1 đứng t n quyền sử dụng đất.

- Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1 có người đại diện theo ủy quyền chị Nguyễn Thị Mỹ L2 trình bày: Anh Nguyễn Minh T1 và ch Mai Th Hồng E có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP Q1 – Chi nhánh Đ2 theo hạn mức số 043/17/HĐ-HM - 9365 ngày 24/3/2017, phụ lục Hợp đồng hạn mức cho vay số 056/PLHĐHMCV/043/17/HĐHM – 9365 ngày 11/4/2017 và các khế ước nhận nợ. Chi tiết các khoản vay như sau:

Hợp đồng hạn mức số 043/17/HĐ-HM -9365 ngày 24/3/2017, khế ước nhận nợ 001/ UNN/043/17/HĐ-HM - 9365 ngày 25/3/2017 hạn mức cấp là 750.000.000đ.

Phụ lục hạn mức cho vay số 056/PLHĐHMCV/043/17/HĐHM – 9365 ngày 11/4/2017 - hế ước nhận nợ 002/ UNN/043/17/HĐ - HM -9365 ngày 13/4/2017 là 350.000.000đ.

Phụ lục hạn mức cho vay số 069/PLHĐHMCV/043/17/HĐHM - 9365 ngày 10/5/2017- hế ước nhận nợ 003/ UNN/043/17/HĐ-HM - 9365 ngày 12/5/2017 là 900.000.000đ.

Mục đích cho vay bổ sung vốn lưu động kinh doanh thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản.

Thời hạn vay: mỗi khoản vay từng lần giải ngân trong hạn mức không vượt quá 06 tháng và được quy đ nh cụ thể tại hế ước nhận nợ.

Phương pháp giải ngân: B n A sẽ thực hiện giải ngân bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản hoặc theo phương thức khác phù hợp với quy đ nh pháp luật và được quy đ nh cụ thể tại hế ước nhận nợ hoặc văn bản thỏa thuận khác giữa hai b n.

Lãi suất vay: Theo thỏa thuận của hai b n tại khế ước nhận nợ.

Lãi suất quá hạn: 150% lãi trong hạn.

Lãi chậm trả: 10%/ năm.

Tài sản thế chấp: là quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Minh T1 và Mai Th Hồng E theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền s hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số phát hành CD9227857, số vào sổ CH02964 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 15/7/2016, thửa đất số 444, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.100m2 .

Quá trình thanh toán nợ: tính đến ngày 17/12/2020 ông T1 và bà E nợ Ngân hàng TMCP Q1 tại Phụ lục hợp đồng hạn mức cho vay số 056/PLHĐHMCV/043/17/HĐHM – 9365 ngày 11/4/2017, Phụ lục Hợp đồng hạn mức cho vay số 069/PLHĐHMCV/043/17/HĐHM – 9365 ngày 10/5/2017 với tổng số tiền nợ là: 877.605.919 đồng.

Theo hợp đồng hạn mức cho vay số 069/PLHĐHMCV/043/17/HĐHM – 9365 ngày 10/5/2017- hế ước nhận nợ 003/ UNN/043/17/HĐ-HM -9365 ngày 12/5/2017, tổng cộng tiền nợ là: Nợ gốc: 24.504.642đ, lãi : 301.550.312đ.Tổng cộng: 326.054.954đ.

Theo Hợp đồng hạn mức cho vay số 069/PLHĐHMCV/043/17/HĐHM – 9365 ngày 10/5/2017- hế ước nhận nợ 003/ UNN/043/17/HĐ-HM -9365 ngày 12/5/2017, tổng cộng tiền nợ là: Nợ gốc: 350.000.000đ, lãi: 201.550.965đ. Tổng cộng: 551.550.965đ.

Ngân hàng TMCP Q1 y u cầu :

Buộc anh Nguyễn Minh T1 và ch Mai Th Hồng E thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 với tổng số nợ tạm tính đến ngày 17/12/2020 số tiền là 877.605.919 đồng (bao gồm tiền gốc 374.504.642 đồng, tiền lãi 503.101.277 đồng) và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn do các b n đã thỏa thuận trong hợp đồng và khế ước nhận nợ cho đến khi anh T1 và ch Hồng E thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng.

ể từ ngày quyết đ nh/bản án có hiệu lực pháp luật anh T1 và ch Hồng E không thực hiện nghĩa vụ thanh toán n u tr n và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Q1 được quyền y u cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền k biên, phát mãi tài sản thế chấp thửa đất số 444, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.100m2, đất t a lạc xã M, huyện T.

- Bị đơn anh Nguyễn Minh T1: Từ khi, Tòa án thụ lý đến khi hoà giải và công khai chứng cứ thì anh T1 vắng mặt không lý do, tuy nhi n trong quá trình giải quyết vụ án thì đến ngày 02 tháng 8 năm 2018 nguy n đơn bà Huỳnh Th N có làm đơn tố cáo hành vi của anh Nguyễn Minh T1 đến cơ quan Điều tra Công an huyện T về tội lừa đảo chiếm đoạt tài, và tại các bi n bản lấy lời khai ngày 24/12/2018, ngày 26/3/2019 của Công an huyện T anh Nguyễn Minh T1 trình bày: Vào khoảng tháng 4, tháng 5 năm 2016 thì ch T2 có đến hỏi gặp anh T1 hỏi vay anh số tiền 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) bằng việc thế chấp quyền sử dụng đất của mẹ ch T2 (bà N), nhưng anh không ch u mà ch đồng ý mua trả dần với 4 thửa đất số tiền giá là 1.300.000.000đ (một t , ba trăm triệu đồng) và anh có đặt c c trước cho ch T2 số tiền là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) và hẹn 3 ngày sau ngày 27/6/2016 đến Ủy ban nhân dân xã M làm thủ tục. Đến ngày 27/6/2016 thì anh và bà N có đến Ủy ban xã làm thủ tục chuyển nhượng, xong thì anh có gửi ch T2 số tiền tiếp theo là 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng) số tiền còn lại anh trả 4 lần, sau khi làm thủ tục xong thì anh đã đi thế chấp Ngân hàng N1 - chi nhánh huyện T8 (g i tắt là Ngân hàng Nông Nghiệp huyện N1) để làm ăn. Như vậy, giữa anh và bà N, ch T2 không còn vay mượn gì của nhau nửa, các số tiền anh đã trả xong, đối với việc bi n nhận vào ngày 21/6/2017 có ghi “tôi có nhận của bà N số tiền 140.000.000đ (một trăm bốn mươi triệu đồng) bà còn nợ lại tôi 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng)” và nội dung “Nay ngày 24/07/2017 sau 1 tháng dì tư đem ra chuộc lại bằng phán tôi sẽ trả lại cho dì tư” và anh cam kết nội dung tr n không phải anh viết, n n Cơ quan điều tra Công an huyện T có quyết đ nh trưng cầu giám đ nh số 114 ngày 17/01/2019. Tại bản kết luận giám đ nh số 105/KL-KTHS ngày 30/01/20219 của Phòng K1 Công an t nh Đ kết luận:

+ Chữ ký tr n các tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A so với chữ viết của ông Nguyễn Minh T1 tr n các ký hiệu M1 đến M5 do cùng 1 người viết ra.

+ hông tiến hành giám đ nh, kết luận chữ ký tr n tài liệu A so với chữ ký ông Nguyễn Minh T1 tr n các tài liệu mẫu chứ ký M1- M5 do chữ ký khác dạng.

Tại quyết đ nh số 310/2019 ngày 05/4/2019 của Công an huyện T quyết đ nh không kh i tố vụ án “hành vi của Nguyễn Minh T1 trong việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Huỳnh Th N là giao d ch dân sự, không cấu thành tội phạm”. Đến ngày 03/8/2022 thì anh Nguyễn Minh T1 uỷ quyền cho anh Nguyễn Vĩnh T6 tham gia vụ án. Tuy nhi n anh T6 vắng mặt các phi n hòa giải n n Tòa án có ra thông báo số 123/2022/TB-VBYK ngày 26/7/2022 và thông báo số 294/2023/TB-VBYK ngày 17/4/2023, tuy nhiên anh T1 và anh T6 không có văn bản ý kiến gì.

Các chứng cứ bị đơn cung cấp tại Công an huyện T bao gồm: 01(một) trang giấy kẽ ngang có nội dung “Nguyễn Minh T1 và bà Huỳnh Thị N sau khi giao dịch qua lại thì hôm nay ngày 16/06/2017 kết thúc không còn nợ nần và vướng bận gì nhau ký tên trinh, ngô thị trinh và ký tên nhi, Huỳnh Thị N”.

- Bị đơn chị Mai Thị Hồng E trình bày: Từ khi thụ lý đến khi hoà giải ch Mai Th Hồng E vắng mặt không lý do, tuy nhi n tại phi n toà ngày 14/6/2023, thì ch Hồng E có mặt và trình bày: Đối với đơn kh i kiện của Ngân hàng N1 và Ngân hàng Q1 đối với các chữ ký hợp đồng tín dụng tr n thì ch có ký, khi đó ch và anh T1 thời điểm còn sống chung vợ chồng, tuy nhi n, những lần anh T1 ch ch đi đến Ngân hàng làm thủ tục vay thì anh T1 nhận tiền n n ch không biết việc này, mặt khác từ năm 2022 đến nay th ch và anh T1 đã ly hôn n n việc Ngân hàng kh i kiện ch không thống nhất cùng anh T1 trả số tiền tr n.

- Ông Nguyễn Văn Q, Chị Nguyễn Thị Thúy O, Anh Nguyễn Minh V2 chị Nguyễn Thị T5, Nguyễn Thị Ngọc T3, Nguyễn Thanh T7, Nguyễn Văn H1, Ngô Thị Đ tại văn bản ý kiến ngày 16/6/2022 và văn bản ý kiến ngày 22/4/2023 và tại phiên tòa trình bày: Thống nhất lời trình bày của bà N, y u cầu Tòa án xem xét hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đất giữa bà Huỳnh Th N và anh Nguyễn Minh T1. Đối với phần đất của anh T7, anh H1, ch Đ mà bà N đã cho canh tác khoảng năm 2008 - 2012 đến nay, nếu Tòa án công nhận hợp đồng giữa bà N với anh T1 thì các anh ch không y u cầu gì với bà N, đối với phần đất thổ cư thửa 444, thì các anh ch khi có gia đình ra ri ng bà N đã cho đất xây dựng nhà từ khoảng năm 2008 đến nay, n n việc Ngân hàng Q1 kh i kiện là không có căn cứ, Trường hợp Toà án chấp nhận y u cầu kh i kiện của bà N và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa bà N và anh T1 thì thống nhất để bà N đứng t n quyền sử dụng đất.

- Bà Ngô Thị T2 trình bày: Do trước kia ch có nhu cầu mua 03 công đất của anh S con cậu út Đ1, nhưng do không đủ tiền mua còn thiếu lại số tiền là 120.000.000đ, n n ch có gặp ch D1 và anh H2 là anh em cô cậu ruột với ch để nhờ ch giúp, khi đó anh H2 ch D1 có giới thiệu ch gặp T1 để hỏi vay tiền, n n trước đó vài ngày ch và T1 và anh H2, D1 có gặp nhau tại quán cà ph gần Phòng công chứng huyện T để trao đổi việc giấy chứng nhận mẹ ch sẽ chuyển cho T1 nên T1 có đi cùng (thỏa thuận chuyển nhượng treo). Đến ngày 27/6/2016 ch bà N cùng anh T1 vô Uỷ ban xã M làm thủ tục sang t n, bà N cùng anh T1 ký tại Bộ phận một cửa của Uỷ ban xã M, sau đó thì anh T1 có đưa cho ch 117.000.000đ (một trăm mười bảy triệu đồng) anh T1 nói trừ 3 triệu tiền giấy tờ, ngoài ra ch không nhận số tiền nào khác của anh T1.

Đến ngày 21/6/2017, do cần tiền để nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, n n ch và mẹ ch vay tiền b n ngoài có tiền có trả cho anh T1 số tiền còn thiếu là 210.000.000đ (hai trăm mười triệu đồng) và anh T1 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mẹ ch đi vay thế chấp Ngân hàng, nhưng khi ch và mẹ ch đến Ngân hàng làm thủ tục vay thì cán bộ Ngân hàng cho bà biết là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mẹ ch b mất trang tư (trang bổ sung) n n không nhận. Nay ch thống nhất y u cầu của mẹ ch y u cầu Hội đồng xét xử xem xét hủy giấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa mẹ ch bà Huỳnh Th N và anh Nguyễn Minh T1.

Tại Bản án sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 21/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười đã quyết đ nh:

Chấp nhận một phần y u cầu kh i kiện của bà Huỳnh Th N về việc hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/6/2016 giữa bà Huỳnh Th N với anh Nguyễn Minh T1.

hông chấp nhận y u cầu kh i kiện của bà Huỳnh Th N về việc y u cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/6/2016 giữa bà Huỳnh Th N và anh Nguyễn Minh T1.

Đề ngh Ủy ban nhân dân huyện T thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 444. Tờ bản đồ số 03, đất t a lạc tại xã M cấp cho anh Nguyễn Minh T1 để cấp lại cho bà Huỳnh Th N trong phạm vi các mốc từ M1-M3-M7-M6 tr về mốc M1 có diện tích là 1.103,9m2 để cấp lại cho bà Huỳnh Th N.

Chấp nhận đơn kh i kiện của Ngân hàng N1- chi nhánh huyện T8. Buộc anh Nguyễn Minh T1 và ch Mai Th Hồng E phải có nghĩa vụ trả cho cho Ngân hàng N1 - chi nhánh huyện T8 số tiền vốn gốc là 1.000.000.000đ và lãi là 709.502.548đ, tổng vốn và lãi là số tiền là 1.709.520.548đ (một t , bảy trăm lẽ chín triệu, năm trăm hai mươi nghìn, năm trăm bốn mươi tám đồng) và tiếp tục tính lãi ngày tiếp theo từ ngày 31/10/2022 đến thi hành xong.

Trường hợp anh T1 và ch Hồng E không trả số tiền tr n thì Ngân hàng có quyền phát mãi tài sản là các thửa đất số 08, 09,10, 456, tờ bản đồ số 03, tổng diện tích là 29.135m2, đất t a lạc tại ấp A, xã M, huyện T, t nh Đồng Tháp do anh Nguyễn Minh T1 đứng t n quyền sử dụng đất.

Chấp nhận một phần y u cầu của Ngân hàng TMCP Q1 buộc anh Nguyễn Minh T1 và ch Mai Th Hồng E phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q2 tiền vốn và lãi là 1.060.698.274đ (một t , không trăm sáu mươi triệu, sáu trăm chín mươi tám nghìn, hai trăm bảy mươi bốn đồng) và tiếp tục tính lãi tiếp theo từ ngày 22/6/2023 đến khi thi hành xong.

hông chấp nhận y u cầu của Ngân hàng Q1 về việc y u cầu phát mãi tài sản là thửa đất 444, tờ bản đồ số 3 do anh Nguyễn Minh T1 đứng t n quyền sử dụng đất.

Ngoài ra, bản án còn tuy n về án phí, chi phí xem xét thẩm đ nh tại chỗ, đ nh giá tài sản quyền và thời hạn kháng cáo, quyền, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy đ nh của pháp luật.

- Ngày 28/6/2023 và ngày 07/7/2023 bà Huỳnh Th N, bà Ngô Th T2 kháng cáo đề ngh Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

- Ngày 30/6/2023, Ngân hàng TMCP Q1 kháng cáo y u cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết: Sửa một phần nội dung bản án sơ thẩm.

- Tại phi n tòa phúc thẩm:

+ Huỳnh Th N trình bày: Bà N vẫn giữ nguy n việc kh i kiện và kháng cáo y u cầu xem xét lại bản án sơ thẩm.

+ Đại diện Ngân hàng TMCP Q1 trình bày: Ngân hàng vẫn giữ nguy n kh i kiện và kháng cáo y u cầu xem xét lại bản án sơ thẩm.

+ Bà Ngô Th T2 trình bày: Bà T2 vẫn giữ nguy n kháng cáo y u cầu xem xét lại bản án sơ thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đều thực hiện đúng quy đ nh của pháp luật.

+ Về nội dung: Đề ngh giữ nguy n bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bà Huỳnh Th N, Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 và bà Ngô Th T2.

Sau khi nghi n cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phi n tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phi n tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A N:

[1] Các nguy n đơn kh i kiện b đơn Nguyễn Minh T1 về tranh chấp hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, hợp đồng tín dụng và hợp đồng kinh doanh thương mại. Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười thụ lý giải quyết là đúng quy đ nh của pháp luật. Bà Huỳnh Th N, Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1, bà Ngô Th T2, kháng cáo trong thời hạn là hợp lệ. ng T1, bà Hồng E và những người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt n n xét xử theo quy đ nh.

[2] Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà N diện tích gồm: Thửa số 9 diện tích 2.760m2, thửa 456 diện tích 15.000m2, thửa số 8 diện tích 4.375m2, thửa số 10 diện tích 7.000m2 và thửa số 444 diện tích 1.100m2 (diện tích trồng cây lâu năm 800m2, thổ cư 300m2), tờ bản đồ số 3, giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho hộ bà N ngày 20/5/2002; đất tại xã M, huyện T, t nh Đồng Tháp. Bà N cho rằng bà không có thỏa thuận chuyển nhượng QSDĐ cho ông T1, n n y u cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng ngày 27/6/2016 giữa bà N và ông T1. Ông T1 trình bày có mua của bà N 04 thửa đất với giá 1.000.000.000đ, ông T1 đã trả tiền xong và đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ ngày 15/7/2016 n n không đồng ý theo y u cầu của bà N. Hiện nay giấy chứng nhận QSDĐ đang thế chấp để vay tiền Ngân hàng.

[3] Xét hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ: Bà N cho rằng ch thỏa thuận thế chấp giấy chứng nhận để vay tiền của ông T1, nhưng bà N, bà T2 đều thừa nhận có cùng ông T1 đến Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, t nh Đồng Tháp để thực hiện giao d ch và thừa nhận chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 27/6/2016. Hợp đồng được Ủy ban nhân dân xã M chứng thực là có thật và đã lập thủ tục ký kết hợp đồng theo thỏa thuận của bà N và ông T1. Tại phi n tòa bà N cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh ông T1 hoặc người nào khác đã ép buộc bà N ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T.

Xét trình bày của người làm chứng: Vợ chồng ông Nguyễn Văn H2 và bà Ngô Th D2 khai vào ngày 23/6/2016, bà N, ông T1, ông H3 và vợ chồng ông H2 có thống nhất việc vay tiền giữa ông T1 cho bà N vay số tiền 120.000.000đ với điều kiện là bà N phải chuyển nhượng QSDĐ của bà N cho ông T1, thời hạn chuyển nhượng là 1 năm ông T1 cho chuộc lại, đến ngày 27/6/2016 thì bà N, bà T2, ông T1 vào Ủy ban nhân dân xã M làm thủ tục chuyển nhượng QSDĐ, còn thủ tục thực hiện thế nào thì vợ chồng ông H2 không biết. Nhận thấy trình bày của vợ chồng ông H2 là chưa phù hợp, b i vì theo vợ chồng ông H2 cho rằng thỏa thuận số tiền vay 120.000.000đ nhưng sẽ cho chuộc lại đất với giá 1.000.000.000đ là chưa hợp lý. Vợ chồng ông H2 thừa nhận không biết cụ thể khi tiến hành thủ tục chuyển nhượng giữa bà N và ông T1, trong khi đó ý chí của bà N và ông T1 thỏa thuận chuyển nhượng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng kiến lập thủ tục theo y u cầu của bà N và ông T1.

Ông Hồ Văn H4 khai trước đây ông T1 có điện thoại cho ông H4 đến Ủy ban nhân dân xã M để làm hồ sơ chuyển nhượng QSDĐ giùm giữa bà N và ông T1 (có gặp vợ chồng ông H2 tại Ủy ban nhân dân xã M). Nội dung là bà N vay tiền của ông T1 120.000.000đ nhưng lập thủ tục chuyển nhượng treo 40 công đất trong thời hạn 1 năm, khi làm thủ tục xong thì ông H4 về n n không biết việc giao nhận tiền giữa ông T1 và bà N. Tuy nhiên ông T1 không thừa nhận việc trình bày của ông H4, nhưng ông H4 cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh ông T1 có nhờ ông làm giùm hợp đồng chuyển nhượng đất. Đồng thời giá chuyển nhượng không phải là 120.000.000đ và diện tích không phải là 40 công (40.000m2).

Ông Nguyễn Văn C1 khai trước đây có làm ăn chung với ông T1 về việc cho vay. hoảng năm 2015 – 2016 vợ chồng bà H2 có giới thiệu bà N cho ông C1 và ông T1 để cho bà N vay tiền và cầm cố QSDĐ (chuyển nhượng treo), do vay số tiền nhỏ n n ông C1 không cho vay, còn ông T1 cho vay bao nhiêu thì ông C1 không biết, nhưng sao này có nghe ông T1 nói là cho bà N vay 210.000.000đ. Như vậy ông C1 cũng không trực tiếp chứng kiến việc thỏa thuận giữa bà N và ông T1. Đồng thời lời khai của ông C1 và lời khai của vợ chồng ông H2 khác nhau về việc ông T1 thỏa thuận cho bà N vay tiền, cụ thể: Ông C1 xác đ nh số tiền bà N vay 210.000.000đ, còn vợ chồng ông H2 thì xác đ nh số tiền bà N vay là 120.000.000đ.

Qua đó cho thấy, ông H2, bà D2, ông H4, ông C1 cho rằng bà N vay tiền của ông T1 và thế chấp QSDĐ (chuyển nhượng treo) n n hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ là giả tạo, nhưng lời khai nhân chứng không khớp nhau về số tiền vay, thực tế giá tr hợp đồng thể hiện rõ diện tích 30.235m2 tương ứng số tiền 1.000.000.000đ. Ngoài hợp đồng ký kết giữa bà N và ông T1 ngày 27/6/2016 thì không có tài liệu chứng cứ chứng minh việc thỏa thuận hợp đồng treo, n n không có cơ s chứng minh hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 27/6/2016 là giả tạo.

Tại Công văn số 3624/UBND-NC ngày 24/6/2023 của Ủy ban nhân dân huyện T ý kiến như sau: Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất giữa hộ bà Huỳnh Th N với ông Nguyễn Minh T1, được Ủy ban nhân dân xã M chứng thực ngày 27/6/2016, đảm bảo trình tự thủ tục theo quy đ nh tại thời điểm chứng thực, theo Công văn số 5404/HTQTCT –CT ngày 21/5/2015 của Cục H5, Quốc t ch. Nội dung hướng dẫn như sau: Đối với chứng thực thì ch cần người đứng t n tr n giấy, người được ủy quyền ký t n là đủ, không cần phải xác đ nh thành vi n hộ gia đình và y u cầu h ký t n.

Theo nội dung giấy viết tay do ông T1 cung cấp thể hiện như sau: Bà Huỳnh Th N sau khi giao d ch qua lại thì hôm nay ngày 16/6/2017 kết thúc không còn nợ nần và vướng bận gì nhau. Phần cuối giấy viết tay này có chữ ký trinh ghi h t n Ngô Thị T2, ký tên N và ghi tên Huỳnh Thị N. Tại phi n tòa phúc thẩm bà N và ch T2 đều thừa nhận chữ ký trong giấy viết tay n u tr n, nhưng không giải thích được nội dung giấy viết tay và không đưa ra được chứng cứ mới chứng minh có sự lừa dối của anh T1 khi ký giấy hoàn tất việc thanh toán tiền chuyển nhượng QSDĐ. Như vậy cho thấy ý chí của hai b n trong việc chuyển nhượng QSDĐ giữa bà N (có bà T2 tham gia thỏa thuận) và anh T1 đã hoàn thành việc thanh toán tiền của hợp đồng ngày 17/6/2016. Mặt khác việc ký kết hợp đồng vào năm 2016, có Ủy ban nhân dân xã M thực hiện việc chứng thực hợp đồng tr n cơ s áp dụng hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền là phù hợp quy đ nh của pháp luật tại thời điểm giao d ch và đúng ý chí của đương sự. Đồng thời việc chuyển nhượng đất này bà N cũng đã nhận đầy đủ tiền theo hợp đồng.

[4] Đối với tài liệu do bà N cung cấp:

Giấy viết tay có nội dung “Tôi có nhận của bà Huỳnh Thị N 140.000.000đ (một trăm bốn chục triệu). Bà còn nợ lại tôi 70.000.000đ (bảy chục triệu). Ngày 21 tháng 6 năm 2017”, giấy này có ghi chữ T1; giấy viết tay có nội dung “Nay ngày 21/7/2017 sau 1 tháng dì tư đem tiền ra chuộc lại bằng khoán tôi sẽ trả lại cho dì tư”, giấy này có ghi chữ T1. Nhận thấy theo các giấy viết tay nói tr n ghi thời gian là sau ngày 16/6/2017 (ngày mà bà N và bà T2 ký t n xác nhận cho ông T1 là ông T1 đã thực hiện xong việc thanh toán tiền chuyển nhượng QSDĐ) không li n quan đến hợp đồng chuyển nhượng ngày 27/6/2016, nên bà N căn cứ tài liệu ghi sau ngày 16/6/2017 để cho rằng không có chuyển nhượng là không phù hợp. Tuy nhi n nội dung giấy viết tay ngày 21/6/2017, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét giải quyết n n cấp phúc thẩm không xem xét.

Giấy chứng nhận QSDĐ (không có trang bổ sung), Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo xác nhận của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T cung cấp thông tin như sau: Giấy chứng nhận QSDĐ (bản chính) diện tích 44.578m2 do hộ bà Huỳnh Th N đứng t n được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 20/5/2002 thuộc thửa đất số 3, 444, 10, 9, 8, 86 và 456 cùng tờ bản đồ số 03; đất tại xã M, huyện T, t nh Đồng Tháp, có kèm theo “T5 bổ sung giấy chứng nhận QSDĐ số 01” (Công văn số 2069/CNTM – Đ CG ngày 25/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ ĐĐ Huyện). Như vậy Chi nhánh không ghi trực tiếp vào trong giấy chứng nhận của bà N về kết quả bà N chuyển nhượng các thửa đất số 9 diện tích 2.760m2, thửa 456 diện tích 15.000m2, thửa số 8 diện tích 4.375m2, thửa số 10 diện tích 7.000m2 và thửa số 444 diện tích 1.100m2 theo hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 27/6/2016, mà T5 bổ sung số 01 được lập thành một tờ giấy ri ng để kèm theo bản chính giấy chứng nhận QSDĐ. Vì vậy bà N được ông T1 giao lại giấy chứng nhận QSDĐ (không có trang bổ sung) đối với các thửa đất còn lại không có chuyển nhượng cho ông T1.

Tuy nhi n, việc chuyển nhượng thửa đất số 444 là chưa phù hợp, b i vì thửa đất này có diện tích 1.100m2 (trong đó diện tích đất trồng cây lâu năm 300m2, đất thổ cư 800m2). Theo bi n bản xem xét thẩm đ nh tại chỗ ngày 21/4/2023 và bi n bản xem xét thẩm đ nh tại chỗ ngày 10/7/2024 của Tòa án T nh thể hiện tr n đất có nhà b tông cốt thép của bà N, nhà b tông cốt thép của bà T2 (nhà tình nghĩa); phần đất còn lại phía sau là vườn cây ăn trái đã trồng từ 10 năm đến 20 năm và có một ngôi mộ (xây gạch) của cháu bà N, nhưng hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 27/6/2016 hoàn toàn không đề cập và chưa có thỏa thuận xử lý các tài sản của bà N, bà T2 đang tồn tại hợp pháp tr n đất ổn đ nh. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm công nhận một phần hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa số 9 diện tích 2.760m2, thửa 456 diện tích 15.000m2, thửa số 8 diện tích 4.375m2, thửa số 10 diện tích 7.000m2 và hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất số 444 (ông T1, bà E không có kháng cáo) là có cơ s . Do ông T1 chưa có đơn y u cầu xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu n n Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét, vì vậy cấp phúc thẩm không xem xét.

[5] Xét hợp đồng thế chấp QSDĐ giữa Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện T8 (A – Chi nhánh T8) và ông Nguyễn Minh T1, bà Mai Th Hồng E: Việc ông T1 nhận chuyển nhựợng QSDĐ đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận và cấp giấy chứng nhận QSDĐ hợp pháp. Ngày 18/7/2016, ông T1 và bà E thế chấp giấy chứng nhận vay tiền A –Chi nhánh T8 để vay số tiền 1.000.000.000đ và đã thanh toán xong. Đến ngày 17/4/2017 thì ông T1 bà E tiếp tục thế chấp giấy chứng nhận để vay số tiền 1.000.000.000đ mục đích để kinh doanh thức ăn gia súc. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ hợp đồng tín dụng, n n Ngân hàng y u cầu ông T1 và bà E trả số tiền vốn và lãi tổng cộng 1.076.750.000đ và tính lãi phát sinh theo hợp đồng. Việc A – Chi nhánh T8 nhận thế chấp QSDĐ các thửa đất số 9 diện tích 2.760m2, thửa 456 diện tích 15.000m2, thửa số 8 diện tích 4.375m2, thửa số 10 diện tích 7.000m2 là phù hợp quy đ nh của pháp luật. B i vì, đây là loại đất trồng lúa n n việc thẩm đ nh tài sản theo hiện trạng đất đã cấp giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ông T1. Việc nhận chuyển nhượng QSDĐ của ông T1 là hợp pháp như đã phân tích nói trên, A – Chi nhánh T8 là người thứ ba ngay tình. Vì vậy kháng cáo của bà N và bà T2 y u cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ các thửa đất số 9, 456, 8, 10 và hủy hợp đồng thế chấp QSDĐ là không có cơ s để chấp nhận.

[6] Xét hợp đồng thế chấp QSDĐ giữa Ngân hàng TMCP Q1 và ông T1, bà E: Việc Ngân hàng nhận thế chấp QSDĐ do ông T1 đứng t n giấy chứng nhận QSDĐ, nhưng tr n đất có nhà ki n cố của bà N, nhà ki n cố của bà T2 đang tồn tại vào thời điểm nhận thế chấp; vườn cây ăn trái của gia đình bà N đã trồng từ 10 năm đến 20 năm và ngôi mộ của cháu bà N (xây gạch) tr n đất. Việc Ngân hàng thẩm đ nh tài sản chưa chặt chẽ n n việc nhận thế chấp tài sản sẽ ảnh hư ng đến quyền lợi hợp của người đang sử dụng đất, đồng thời do một phần hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ b vô hiệu đối với thửa đất số 444 như đã phân tích n u tr n, n n hợp đồng thế chấp tài sản ngày 11/4/2017 b vô hiệu. Vì vậy kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q1 là không có cơ s để chấp nhận.

[7] Đại diện Viện kiểm sát T nh đề ngh không chấp nhận y u cầu kháng cáo của bà N, Ngân hàng TMCP Q1 và bà T2. Giữ nguy n quyết đ nh của bản án dân sự sơ thẩm là có cơ s n n chấp nhận.

Tòa án cấp sơ thẩm xử đã có căn cứ n n giữ nguy n quyết đ nh của bản án dân sự sơ thẩm. hông chấp nhận y u cầu kháng cáo của bà N, Ngân hàng TMCP Q1 và bà T2, tuy nhi n điều ch nh cách tuy n án để đảm bảo thi hành án. Các phần khác không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật.

[8] Án phí phúc thẩm: Bà N được miễn tiền án phí do người cao tuổi. Ngân hàng TMCP Q1 phải ch u 300.000đ. Bà T2 được miễn (hộ cận nghèo).

Vì các lẽ tr n;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 133; Điều 500 Bộ Luật dân sự; Điều 100, Điều 106, Điều 166, Điều 203 Luật đất đai; Điều 26, Điều 35, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227; Điều 228, Điều 244, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy đ nh về án phí và lệ phí Tòa án.

1. hông chấp nhận y u cầu kháng cáo của bà Huỳnh Th N, Ngân hàng TMCP Q1 và bà Ngô Th T2.

Giữ nguy n bản án dân sự sơ thẩm.

2. Chấp nhận một phần y u cầu kh i kiện của bà Huỳnh Th N về việc hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/6/2016 giữa bà Huỳnh Th N với ông Nguyễn Minh T1.

hông chấp nhận y u cầu kh i kiện của bà Huỳnh Th N về việc y u cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/6/2016 giữa bà Huỳnh Th N và ông Nguyễn Minh T1.

Hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/6/2016 giữa bà Huỳnh Th N và ông Nguyễn Minh T1 đối với thửa đất số 444, diện tích 1.100m2 tờ bản đồ số 3, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 20/5/2002 cho hộ bà Huỳnh Th N.

Đề ngh Ủy ban nhân dân huyện T thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Minh T1 ngày 15/7/2016 thửa 444, tờ bản đồ số 03, đất t a lạc tại xã M, huyện T trong phạm vi các mốc từ M1-M3-M7-M6 tr về mốc M1 có diện tích là 1.103,9m2 để cấp lại cho bà Huỳnh Th N.

(kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/4/2023, ngày 10/7/2024 và 02 sơ đồ đo đạc ngày 28/4/2021, ngày 09/5/2023 của Công ty TNHH D3)

Chấp nhận đơn kh i kiện của Ngân hàng N1- chi nhánh huyện T8. Buộc ông Nguyễn Minh T1 và bà Mai Th Hồng E phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N1 - chi nhánh huyện T8 số tiền vốn gốc là 1.000.000.000đ và lãi là 709.502.548đ, tổng vốn và lãi số tiền là 1.709.520.548đ (một t , bảy trăm lẽ chín triệu, năm trăm hai mươi nghìn, năm trăm bốn mươi tám đồng) và tiếp tục tính lãi ngày tiếp theo từ ngày 31/10/2022 đến thi hành xong.

Trường hợp ông T1 và bà Hồng E không trả số tiền trên thì Ngân hàng có quyền phát mãi tài sản là các thửa đất số 08, 09,10, 456, tờ bản đồ số 03, tổng diện tích là 29.135m2, đất t a lạc tại ấp A, xã M, huyện T, t nh Đồng Tháp do ông Nguyễn Minh T1 đứng t n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Chấp nhận một phần y u cầu của Ngân hàng TMCP Q1. Buộc ông Nguyễn Minh T1 và bà Mai Th Hồng E phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q2 tiền vốn và lãi là 1.060.698.274đ (một t , không trăm sáu mươi triệu, sáu trăm chín mươi tám nghìn, hai trăm bảy mươi bốn đồng) và tiếp tục tính lãi tiếp theo từ ngày 22/6/2023 đến khi thi hành xong.

hông chấp nhận y u cầu của Ngân hàng TMCP Q1 về việc y u cầu phát mãi tài sản là thửa đất 444, tờ bản đồ số 3 do ông Nguyễn Minh T1 đứng t n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

3. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Huỳnh Th N phải ch u 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhi n bà N được miễn án phí do là người cao tuổi theo Ngh quyết 326/2016. Bà N được nhận lại số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo bi n lai thu số 0002805 ngày 14/3/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, t nh Đồng Tháp.

Ngân hàng N1 – chi nhánh huyện T8 được nhận lại số tiền 22.151.000đ (hai mươi hai triệu, một trăm năm mươi mốt nghìn đồng) theo bi n lai thu số 0002897 ngày 03/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, t nh Đồng Tháp.

Ngân hàng TMCP Q1 được nhận lại số tiền 19.164.000đ theo bi n lai thu số 0001845 ngày 22/12/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, t nh Đồng Tháp.

Ông Nguyễn Minh T1 và bà Mai Th Hồng E phải ch u án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 87.404.376đ (tám mươi bảy triệu, bốn trăm lẽ bốn ngàn, ba trăm bảy mươi sáu đồng).

- Án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Huỳnh Th N được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi.

Ngân hàng TMCP Q1 phải ch u tiền án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000đ theo bi n lai thu số 0003509 ngày 13/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, t nh Đồng Tháp.

Bà Ngô Th T2 được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm (hộ cận nghèo).

4. Về chi phí xem xét, thẩm đ nh tại chỗ và chi phí đ nh giá số tiền là 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng) Ngân hàng N1 - chi nhánh huyện T8 đã chi xong.

- Về chi phí xem xét, thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá bà N phải ch u 3.143.000đ.(ba triệu, một trăm bốn mươi ba nghìn đồng) bà N đã chi xong.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuy n án./.

Cỡ chữ