vanban.org

Bản án 380/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ph.

Về nuôi con: Giao cháu Huỳnh Phương Ng sinh ngày 11/10/2004 và cháu Huỳnh Thúy N sinh ngày 17/9/2006 cho chị Nguyễn Thị Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng cho con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Ph không yêu cầu anh Q cấp dưỡng cho con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 380/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 9 - 2020
V/v “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hồng Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Phước

2. Bà Trương Thị Diện

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Đình – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2020 tại Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2019 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ PT, khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh B.

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Q, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ P2, khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh B.

(Nguyên đơn chị Ph đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

+ Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày trong quá trình giải quyết của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ph:

Về hôn nhân: Chị và anh Q kết hôn năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (Giấy chứng nhận kết hôn số 01 quyển số 01). Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên có mâu thuẫn. Anh Q đập phá tài sản của vợ chồng, bạo lực gia đình, đánh đập chị. Chị Ph đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Q không nghe. Đến năm 2014, vợ chồng ly thân một năm, sau đó chị tha thứ để chung sống nhưng anh Q vẫn không bỏ được thói quen uống rượu về đập phá tài sản, hành hung con cái. Vì tình cảm vợ chồng đã không còn, không cố gắng hơn được nữa nên chị Ph yêu cầu ly hôn anh Q.

Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Phương Ng sinh ngày 11/10/2004 và Huỳnh Thúy N sinh ngày 17/9/2006. Khi ly hôn, chị Ph cầu nuôi hai con và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng cho con.

Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết về tài sản.

+ Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Huỳnh Q không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của chị Ph, không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập, thông báo và giấy báo.

+ Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo qui định của pháp luật. Kiến nghị khắc phục vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận cho chị Ph được ly hôn anh Q; giao con chung cho chị Ph nuôi dưỡng; tài sản không yêu cầu giải quyết; chị Ph phải chịu án phí sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ph có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Huỳnh Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, theo qui định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Theo thông tin xác minh tại địa phương nơi anh Q cư trú thì anh có hộ khẩu thường trú tại: Tổ P2, khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh B nhưng thường xuyên không có nhà. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác của Tòa án nhưng anh Q không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, không chấp hành việc triệu tập của Tòa án. Do đó, Tòa án không lấy ý kiến của anh Q để làm rõ các nội dung liên quan đến yêu cầu của chị Ph được, không tiến hành hòa giải được. Anh Q đã thể hiện ý thức, thái độ thiếu tôn trọng pháp luật; không có ý kiến, trình bày để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo qui định của pháp luật nên phải chịu trách nhiệm cho việc không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án theo qui định của pháp luật.

Về hôn nhân: Trong thời gian chung sống, chị Ph và anh Q có nhiều mâu thuẫn. Hiện nay, vợ chồng đã ly thân, không còn sống chung với nhau và cũng không còn quan tâm đến nhau. Chị Ph yêu cầu ly hôn anh Q cũng không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Có thể thấy, hôn nhân giữa chị Ph và anh Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại trên thực tế, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị Ph ly hôn anh Q.

Việc nuôi con sau khi ly hôn: Cháu Ng và cháu N đang do chị Ph nuôi dưỡng, chăm sóc, có cuộc sống, sự phát triển bình thường. Hai cháu là con gái, đều có nguyện vọng muốn được ở cùng với mẹ nên giao hai cháu cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Chị Ph không yêu cầu anh Q cấp dưỡng cho con, đây là sự tự nguyện của chị nên được ghi nhận.

Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Theo qui định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án thì chị Ph phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ph. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ph và anh Huỳnh Q.

2. Về nuôi con: Giao cháu Huỳnh Phương Ng sinh ngày 11/10/2004 và cháu Huỳnh Thúy N sinh ngày 17/9/2006 cho chị Nguyễn Thị Ph trực tiếp nuôi dưỡng.

3. Về cấp dưỡng cho con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Ph không yêu cầu anh Q cấp dưỡng cho con.

4. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng cho con theo qui định của pháp luật.

5. Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết.

6. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Ph phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Ph đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005048 ngày 08 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định nên được khấu trừ, chị Ph đã nộp đủ.

7. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ