- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản — án dân sự — "Yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền của chủ sở hữu"
- Tòa quyết gì? Kho n 2 Điều 26, điểm a kho n 1 Điều 35, điểm a kho n 1 Điều 39, kho n 1 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của ộ luật T tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; luật T tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ C | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n n s : 38/2023/DS-ST Ngày: 22/03/2023 V/v: “Tranh chấp về yêu cầu chấm dứt hành vi c n trở tr i ph p luật việc thực hiện quyền của chủ sở hữu” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ C
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: à Nguyễn Thị Ngọc .
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Trần Thị D
2/ Bà Hồ Thị Kim L
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều T– Thư ký Tòa n nhân dân quận K, thành ph C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận K, thành phố C tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị ích T – Kiểm s t viên.
Ngày 22 tháng 03 năm 2023 tại trụ sở Tòa n nhân dân quận K, thành ph C xét xử sơ thẩm công khai vụ n dân sự thụ lý s : 476/2022/TLST- DS ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc“Tranh chấp về yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền của chủ sở hữu” theo Quyết định đưa vụ n ra xét xử s : 99/2023/QĐST- DS ngày 22 tháng 02 năm 2023, giữa c c đương sự:
- Nguyên đơn: 1/ à Võ Đường Mộ , sinh năm: 1985.
Địa chỉ: 1A/11 khu vực L, phường , quận , thành ph C.
- Bị đơn: Ông Phạm Mạnh H, sinh năm: 1983.
Địa chỉ: 340/4 khu vực M, phường A, quận K, thành ph C.
Địa chỉ liên hệ: 27/29 Nguyễn TP, khu vực 1, phường A, quận K, thành ph C.
-Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: à Dương Thi D, sinh năm: 1974
Địa chỉ: 17Y2/3 khu vực 3, phường A, quận K, thành ph C.
Địa chỉ liên hệ: 82 NĐ, phường A, quận , thành ph C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/06/2022 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Ngày 05 th ng 9 năm 1996 ông Võ Văn P là cha của nguyên đơn được Ủy ban nhân dân tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có s vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s 000, thửa s 37, tờ b n đồ s 6 phần đất tọa lạc tại phường , quận , thành ph C.
Năm 2017 ông Võ Văn P chết, c c đồng thừa kế của ông P đã lập văn b n thỏa thuận phân chia di s n thừa kế có công chứng vào ngày 19/03/2020 với nội dung tặng cho nguyên đơn toàn bộ phần di s n của ông P để lại theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có s vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s 000 ngày 05 th ng 9 năm 1996 (chỉnh lý biến động ngày 21/11/2003).
Ngày 14/04/2020 nguyên đơn và bà Dương Thị D có ký hợp đồng đặc cọc tại phòng công chứng Đỗ Thị H s công chứng hợp đồng 591 quyển s 1 TP/CC-SCC/HĐGD đ i với phần đất theo giấy quyền sử dụng đất có s vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s 000 ngày 05 th ng 9 năm 1996 (chỉnh lý biến động ngày 21/11/2003), nguyên đơn đã nhận 720.000.000đ tiền cọc từ bà D.
Tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc phần đất trên đang là tài s n đ m b o cho kho n vay của ngân hàng nông nghiệp chi nh nh đồng thời Chi cục thi hành án dân sự quận có quyết định ngăn chặn việc chuyển nhượng.
Do không nắm vững thủ tục hành chính về việc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên nguyên đơn có gặp bị đơn để giao b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu bị đơn làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn. Khi giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nguyên đơn và bị đơn có làm biên nhận ngày 21/02/2020. Từ thời điểm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay đã 02 năm nhưng bị đơn vẫn không hoàn thành thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn.
Do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn tr lại b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có s vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s 000 ngày 05 th ng 9 năm 1996 do Ủy bân nhân dân tỉnh C cấp cho ông Võ Văn P (chỉnh lý biến động ngày 21/11/2003).
Tòa n đã tiến hành triệu tập bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để thực hiện thủ tục hòa gi i nhưng bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vấn vắng mặt không rõ lý do. Do đó Tòa n ra quyết định đưa vụ n ra xét xử.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: nguyên đơn yêu cầu bị đơn tr lại b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có s vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s 000 ngày 05 th ng 9 năm 1996 do Ủy bân nhân dân tỉnh C cấp cho ông Võ Văn P (chính lý biến động ngày 21/11/2003). Đ i với việc nguyên đơn và bà D đã ký hợp đồng đặt cọc thì nguyên đơn vẫn mu n tiếp tục thực hiện hợp đồng nếu bà D mu n tiếp tục thực hiện hợp đồng thì nguyên đơn và bà D cùng nhau làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà D.
Bị đơn trình bày: ị đơn có ký nhận b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn để làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong qu trình làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng bà D và bà B có thỏa thuận bà D là người giữ b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bị đơn đã giao b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà D. Việc thỏa thuận trên chỉ là thỏa thuận bằng lời nói giữa c c đương sự. Hiện tại bà D là người đang giữ b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn.
Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: Hiện tại tôi đang giữ b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tôi và nguyên đơn có ký hợp đồng đặt cọc đ i với phần đất tại thửa s 61, tờ b n đồ s 06, phần đất tọa lạc tại hẻm 9 đường ùi H, phường , quận thành ph C. Tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ngân hàng giữ để ph t mãi thi hành án, ông P – cha của là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi ký hợp đồng đặt cọc xong tôi đã giao tiền cho ngân hàng để nhận lại b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cất giữ để làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi thực hiện thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất tại thửa s 26 (liền kề thửa 61 – thửa tôi ký hợp đồng đặt cọc) thiếu 16 m2 do đó nguyên đơn không chịu ký b n trích đo địa chính nên không thể cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn và hoàn tất thủ tục chuyển nhượng cho tôi. Tôi không đồng ý tr lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn và yêu cầu nguyên đơn ph i hoàn tất thủ tục cấp giấy để chuyển nhượng phần đất cho tôi.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- Về tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa n tiến hành thụ lý vụ n đúng thẩm quyền, x c định đúng quan hệ ph p luật, x c định đúng tư c ch tham gia t tụng của c c đương sự, trình tự thụ lý, giao nhận thông b o thụ lý đúng theo quy định của ộ luật t tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định về thủ tục t tụng tại phiên tòa.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà D tr lại b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu c c tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết qu tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn tr lại b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có s vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 000 ngày 05 th ng 9 năm 1996 do Ủy bân nhân dân tỉnh C cấp cho ông Võ Văn P (chỉnh lý biến động ngày 21/11/2003). Do đó quan hệ ph p luật được x c định: “Tranh chấp về yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền của chủ sở hữu”. ị đơn ông Phạm Mạnh H có địa chỉ: 340/4 khu vực 4, phường A, quận K, thành ph C nên thuộc thẩm quyền gi i quyết của Tòa n nhân dân quận K, thành ph C theo quy định tại kho n 2 Điều 26, điểm a kho n 1 Điều 35, điểm a kho n 1 Điều 39 của ộ luật t tụng dân sự.
Về nội dung: Nguyên đơn căn cứ vào b n chính biên nhận ngày 21/02/2020 để yêu cầu bị đơn ông Phạm Mạnh H tr lại b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có s vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s 000 ngày 05 th ng 9 năm 1996 do Ủy bân nhân dân tỉnh C cấp cho ông Võ Văn P (chỉnh lý biến động ngày 21/11/2003). Ông H thừa nhận đã ký nhận b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn nhưng đã giao lại cho bà D.Trong qu trình gi i quyết vụ n, Tòa n đã x c minh: Cơ quan c nh s t điều tra công an quận Ninh Kiều x c định bà Dương Thị D là người đang qu n lý, cất giữ b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có s vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s 000 ngày 05 th ng 9 năm 1996 do Ủy bân nhân dân tỉnh C cấp cho ông Võ Văn P (chỉnh lý biến động ngày 21/11/2003) (theo Công văn s 580/CSĐT-ĐTTH ngày 06/10/2020). Tại phiên tòa, bà D thừa nhận đang giữ b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư ph p lý để nhà nước x c nhận quyền sử dụng đất hợp ph p của người có quyền sử dụng đất. Nguyên đơn là một trong những đồng người thừa kế của ông P, c c đồng thừa kế kh c của ông P đã tặng cho nguyên đơn toàn bộ quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tr lại b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phù hợp và có cơ sở để chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ph i chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào:
- Kho n 2 Điều 26, điểm a kho n 1 Điều 35, điểm a kho n 1 Điều 39, kho n 1 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của ộ luật T tụng dân sự năm 2015;
- Điều 164, Điều 169 ộ luật dân sự năm 2015;
- Nghị quyết s 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội quy định về n phí, lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Đường Mộ .
uộc bị đơn ông Phạm Mạnh H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị D tr lại b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có s vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s 000 ngày 05 th ng 9 năm 1996 do Ủy bân nhân dân tỉnh C cấp cho ông Võ Văn P (chỉnh lý biến động ngày 21/11/2003). Nếu bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tr lại b n chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có s vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s 000 ngày 05 th ng 9 năm 1996 do Ủy bân nhân dân tỉnh Cần Thơ cấp cho ông Võ Văn P (chỉnh lý biến động ngày 21/11/2003) cho nguyên đơn thì nguyên đơn có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của ph p luật.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Võ Đường Mộ được nhận lại 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng n phí theo biên lai thu s 0000063 ngày 30/09/2022 tại Chi cục thi hành n dân sự quận K. ị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ph i chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) n phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: C c đương sự được quyền kh ng c o b n n này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên n (đương sự vắng mặt thời hạn kh ng c o là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được b n n hoặc b n n được niêm yết theo quy định của ph p luật), để yêu cầu Tòa n nhân dân thành ph Cần Thơ gi i quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp b n n, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành n dân sự thì người được thi hành n dân sự, người ph i thi hành n dân sự có quyền thỏa thuận thi hành n, quyền yêu cầu thi hành n, tự nguyện thi hành n hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo quy định tại c c Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành n dân sự; Thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành n dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND Tp.C; - VKSND Q.K; - VKSND TP. C. - Chi cục THADS Q.K; - Lưu hồ sơ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc B |