vanban.org

Bản án 38 — Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 92; Điều 227 và Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn C. Buộc bị đơn Võ Duy T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "Nguyễn Văn Ch- Võ Duy T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 92; Điều 227 và Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

KHU VỰC 13

NAM

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 38/2026/DS -ST Ngày: 11-02-2026. V/v: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Vũ Tiên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Quyến

2. Ông Nguyễn Văn Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Chi – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 - Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 02 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Cần Thơ. Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 351/2025/TLST- DS ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐXX-ST ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Văn C, sinh năm: 1989 (Có mặt).

Trú tại: ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Võ Duy T, sinh năm: 1971(Có mặt).

Trú tại: ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.

- Người làm chứng: Liễu Văn T1 (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/8/2025 và quá trình tố tụng nguyên đơn Nguyễn Văn C trình bày:

Vào tháng 7/2025 nguyên đơn có cuốc ao cá cho bị đơn 03 cầm cá diện tích bao nhiêu không rõ. Bị đơn thuê nguyên đơn có ao sẵn nhưng không có cá và bị đơn bơm khô nước trong các ao. Bị đơn thuê nguyên đơn vét các ao cá các bên không làm hợp đồng, chỉ thoả thuận miệng, công việc làm tới đâu chỉ tới đó, vét 03 ao cá với số tiền 50.000.000 đồng và nhận cọc trước 20.000.000 đồng và không làm biên nhận, ao số 1, số 3 mỗi ao là 15.000.000 đồng và ao số 2 là 20.000.000 đồng. Đối với 03 ao cá trên nguyên đơn vét là 17 ngày. Khi cuốc xong ao cá nguyên đơn đã giao cho bị đơn và đã nghiệm thu và cam kết 03 ngày sau sẽ trả số tiền còn lại. Đến ba ngày nguyên đơn liên hệ đòi tiền nhưng bị đơn không trả. Sau nhiều lần đòi tiền bị đơn yêu cầu bớt 10 triệu đồng nhưng nguyên đơn không đồng ý, bị đơn cho rằng bị sạt lỡ ao số 2 và kêu vào khắc phục nguyên đơn không đồng ý. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền còn nợ 30.000.000 đồng. Trong quá trình tố tụng bị đơn Võ Duy T trình bày: Vào ngày 03/07/2025 bị đơn có thuê nguyên đơn vét lại ao nuôi cá tọa lạc tại ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ, việc thuê nguyên đơn vét ao cá thì hai bên không lập thành văn bản, chỉ thỏa thuận miệng, trước khi nguyên đơn vào vét ao thì ao đã có sẵn và cao khoảng 2,5m. Bị đơn thuê nguyên đơn vét đất xuống sâu khoảng 0,5m và bằng với phần miệng cống với số tiền là 50.000.000 đồng. Trong đó ao số 1, và số 3 mỗi ao 15.000.000 đồng và ao số 2 (do lớn hơn) là 20.000.000 đồng. Nguyên đơn ứng trước 20.000.000 đồng, quá trình vét các ao cá bị đơn không theo giám sát do đã chỉ mẫu, nguyên đơn vét ao cho bị đơn là 15 ngày, đối với ao số 2 bị sạt lỡ trong quá trình làm và bị đơn mua 100 cây tràm để đóng nhưng sau đó vẫn sạt lỡ, hiện tại ao số 2 dẫn sạt lỡ diện tích khoảng 20m dài và sâu vào khoảng 2m, (Ao số 2 sạt 3 bên và trong đó có 1 bên đã đóng cừ trước đây và 02 bên còn lại). Quá trình giao bị đơn không trực tiếp nghiệm thu và khoảng 04 ngày sau bị đơn ra kiểm tra thì phát hiện sạt lỡ.

Nay bị đơn không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không đồng ý bồi thường. Bị đơn yêu cầu nguyên đơn sửa chữa lại ao cá cho bị đơn, chi phí phát mới sinh đồng ý trả và trả 30.000.000 đồng tiền còn nợ. Tại phiên toà bị đơn đồng ý trả số tiền 15.000.000 đồng.

Về trình tự thủ tục: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm Phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo trình tự thủ tục quy định. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 30.000.000 đồng.

Về án phí: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng dịch vụ. Bị đơn có đăng ký thường trú tại ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Cần Thơ theo quy định tại khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;

. Nguyên đơn Nguyễn Văn C khởi kiện yêu cầu bị đơn Võ Duy T trả số tiền thuê vét ao cá còn nợ 30.000.000 đồng.

. Bị đơn ông Võ Duy T thừa nhận vào ngày 03/07/2025 bị đơn có thuê nguyên đơn vào vét 03 ao nuôi cá với số tiền là 50.000.000 đồng .Nguyên đơn ứng trước là 20.000.000 đồng và còn lại 30.000.000 đồng khi nào xong việc thì trả. Khi nguyên đơn giao cho bị đơn xong và khoảng 04 ngày sau bị đơn ra kiểm tra thì phát hiện sạt lỡ. Bị đơn đơn yêu cầu nguyên đơn vào sửa lại ao cá cho bị đơn nhưng không đồng ý. Tại phiên toà bị đơn đồng ý trả số tiền 15.000.000 đồng cho nguyên đơn. [4]. Theo lời trình bày các đương sự bị đơn có thuê nguyên đơn vét 03 ao cá với số tiền 50.000.000 đồng, giữa các bên chỉ thoả thuận miệng, không lập hợp đồng bằng văn bản, nguyên đơn ứng số tiền 20.000.000 đồng và bị đơn còn lại 30.000.000 đồng khi nào xong việc trả. Lời trình bày của các đương sự phù hợp với các chứng cứ nguyên đơn cung cấp, phù hợp với lời thừa nhận của bị đơn đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn cho rằng khi xong việc có báo bị đơn và hẹn 03 ngày sau trả tiền và đến hẹn bị đơn không trả và khoảng 30 ngày bị đơn báo ao cá bị sạt lỡ bị đơn không đồng ý trả số tiền còn lại.

. Theo bị đơn khi nguyên đơn báo công việc đã hoàn thành, bị đơn không trực tiếp ra xem và khoảng 04 ngày thì phát hiện ao cá bị sạt lỡ và có liên hệ với nguyên đơn để khắc phục, nhưng nguyên đơn không vào.

. Xét thấy giữa nguyên đơn và bị đơn khi thực hiện hợp đồng vét ao cá không lập thành văn bản và không thoả thuận công việc cụ thể cần làm, quy cách công việc và quá trình nghiệm thu, bàn giao. Tuy nhiên nguyên đơn đã vét 03 ao cá cho bị đơn và đã hoàn thành công việc, di chuyển xe cuốc đi và đã bàn giao các ao cho bị đơn là có thật và bị đơn cũng thừa nhận quá trình thi công ao số 02 bị sạt lỡ và bị đơn là người trực tiếp mua 100 cây tràm cho nguyên đơn đóng vào khu vực sạt lỡ. Do bị đơn không trực tiếp đến nghiệm thu công việc là lỗi của bị đơn, mặc khác bị đơn cho rằng khi bàn giao xong là sạt lỡ nhưng bị đơn không chứng minh được lỗi trên do nguyên đơn.

Từ những phân tích trên xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Võ Duy T có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn C tổng số tiền còn nợ 30.000.000 đồng.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Võ Duy T phải chịu theo quy định pháp luật.

. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 92; Điều 227 và Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 513, Điều 515 và Điều 519 Bộ Luật dân sự năm 2015;

Điều 26 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn C. Buộc bị đơn Võ Duy T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn Võ Duy T phải chịu 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) nộp tại Thi thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

Nguyên đơn Nguyễn Văn C được nhận lại 750.000 đ (Bảy trăm năm mươi ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã đóng theo biên lai thu số 0005761, ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

3. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp Bản án của Tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự - thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. * Nơi nhận:

Cỡ chữ