vanban.org

Bản án 38

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Quách Văn S1, Huỳnh Thanh T2 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

p d ng Khoản 1 Điều 135, Điểm b, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 53, Điều 60 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kim T mức án 01 năm 03 tháng tù (Một năm ba tháng tù) nhưng cho hư ng án treo Thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng, kể từ ngày hôm nay tuyên án (ngày 18/9/2017) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Thị Kim T và đồng bọn cưỡng đoạt tài sản - Bị truy tố tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Quách Văn S1, Huỳnh Thanh T2 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SA ĐÉC
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án s : 38/2017/HSST
Ngày: 18-9-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thạch Thị Thúy Ái

Ông Lê Quang Thơm

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân - Cán bộ Tòa án nhân dân thành ph Sa Đ c

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Sa Đéc tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn M i - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 9 năm 2017 tại tr s Tòa án nhân dân thành ph Sa Đéc

X t xử sơ thẩm v án hình sự th lý s 40/2017/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2017 đ i với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1963 có m t

- Nơi sinh: thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

- ĐKTT: Khóm Q, Phường R, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

- Dân tộc: Kinh

- Qu c tịch: Việt Nam

- Nghề nghiệp: Không

- Trình độ văn hóa: 5/12

- Con ông: Đặng Thành T1, sinh năm 1922 (chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1931 (chết)

- Chồng: Huỳnh Hữu P, sinh năm: 1963 (chết)

- Con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 2000

- Anh, chị, em: có 10 người, lớn nhất sinh năm 1952, nhỏ nhất sinh 1975

- Tiền án, tiền sự: Không

- Tạm giữ, tạm giam: Không

Hiện bị cáo đang tại ngoại tại Khóm Q, Phường R, thành ph S; áp d ng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú

2. Họ và tên: Quách Văn S1, sinh năm 1992 có m t

- Nơi sinh: thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

- ĐKTT: Ấp T3, xã T4, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

- Dân tộc: Kinh

- Qu c tịch: Việt Nam

- Nghề nghiệp: Mua bán

- Trình độ văn hóa: 9/12

- Con ông: Quách Văn B1, sinh năm 1945 và bà Nguyễn Thị H1, sinh 1948

- Vợ: Huỳnh Thanh T2, sinh năm: 1991 (không có đăng ký kết hôn)

- Con: có 01 người tên Quách Gia P1, sinh năm 2017

- Anh, chị, em: có 02 người, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1984

- Tiền án, tiền sự: Không

- Tạm giữ: ngày 02/7/2017

- Tạm giam: ngày 11/7/2017

- Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành ph Sa Đ c

3. Họ và tên: Huỳnh Thanh T2, sinh năm 1991 có m t

- Nơi sinh: tỉnh Trà Vinh

- ĐKTT: Khóm Q, Phường R, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

- Chỗ : Ấp T3, xã T4, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

- Dân tộc: Kinh

- Qu c tịch: Việt Nam

- Nghề nghiệp: Không

- Trình độ văn hóa: 8/12

- Con ông: Huỳnh Hữu P, sinh năm 1963 (chết) và bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1963

- Chồng: Quách Văn S1, sinh năm 1992 (không có đăng ký kết hôn)

- Con: có 03 người, lớn nhất sinh 2008, nhỏ nhất sinh năm 2017

- Anh, chị, em: có 02 người, lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 2000

- Tiền án, tiền sự: Không

- Tạm giữ, tạm giam: Không

Hiện bị cáo đang tại ngoại tại Khóm Q, Phường R, thành ph S; áp d ng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú

* Ngư i bị hại:

Bà Phan Thị T5, sinh năm 1950 có m t

ĐKTT: Ấp L2, xã D1, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

NHẬN THẤY

Các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Quách Văn S1, Huỳnh Thanh T2 bị Viện kiểm sát nhân dân thành ph Sa Đ c truy t về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/6/2017, Nguyễn Thị Kim T đến nhà bà Phan Thị T5 tọa lạc ấp L2, xã D1, thành ph S để yêu cầu bà T5 trả s tiền 81.600 000 đồng theo Quyết định giải quyết của Tòa án nhân dân thành ph Sa Đ c vào năm 2012 Khi đến nơi thì bà T5 và ông Nguyễn Thành L3 (chồng bà T5) cho T biết hiện tại gia đình bà T5 không có tiền trả cho T nên giữa hai bên xảy ra cự cải Sau đó, T điện thoại cho Huỳnh Thanh T2 (con ruột của T) đến nhà bà T5 để cùng T yêu cầu vợ chồng bà T5 trả nợ T Nghe vậy, T2 liền kêu Quách Văn S1 (chồng T2) điều khiển xe mô tô biển s 63B7-060 89 ch T2 đến nhà bà T5. Lúc này, S1 gặp bạn là L4 và H2 (không rõ họ tên, địa chỉ) đang u ng cà phê tại quán giải khát của S1, tại Trung tâm thương mại thành ph S thuộc Khóm W, Phường I, thành ph S, nên S1 kêu L4 và H2 cùng đi để đòi nợ tiếp T thì được cả hai đồng ý Khi đến nhà bà T5 thì S1, T2, L4 và H2 đi vào nhà gặp T và bà T5 vẫn còn cự cải với nhau nên T2 và L4 tiếp t c yêu cầu bà T5, ông L3 phải trả tiền nợ cho T Thấy nhóm của T đông người nên ông L3 hoảng sợ và nói “Bây giờ mấy người vào nhà tôi đông vậy để tôi đi kêu Công an đến giải quyết”, T nói “Nếu anh thách thức, vậy tôi lấy đồ để trừ nợ, anh đi kêu Công an đi tôi đây đợi” Sau đó, ông L3 đi đến Công an xã Tân Phú Đông, thành ph Sa Đ c trình báo sự việc

Khi ông L3 vừa đi khỏi nhà thì T nói với S1, T2, L4 và H2 “nếu bà T5 không có tiền trả thì lấy đồ để trừ nợ” Sau khi T vừa nói xong, S1 nhìn thấy bên trong tủ kính, khung làm bằng nhôm âm trên tường có một máy quay phim hiệu Sony, màu trắng đen, loại 1 5 Megapixels; một máy quay phim hiệu Sony, màu trắng đen, loại 2 8 Megapixels và một đèn chiếu Camera hiệu Kttelecop màu xám nên đi đến dùng chìa khóa xe mô tô m ổ khóa cửa tủ kính nhưng không m được Thấy vậy, bà T5 chạy đến nói với nhóm của T không được lấy tài sản trong nhà và dùng tay đẩy cánh cửa tủ lại S1 liền dùng tay giật mạnh cánh cửa tủ làm cánh cửa tủ rơi xu ng nền gạch vỡ tấm kính Sau đó, S1 lấy hai máy quay phim, một đèn chiếu Camera có đặc điểm nêu trên và đưa cho T2 giữ một máy quay phim hiệu Sony, màu trắng đen, loại 2 8 Megapixels, đưa cho L4 giữ một đèn chiếu Camera hiệu Kttelecop màu xám, còn S1 giữ một máy quay phim hiệu Sony, màu trắng đen, loại 1 5 Megapixels Sau khi lấy tài sản xong, S1 đem máy quay phim S1 đang giữ để vào c p xe mô tô biển s 63B7-060 89 rồi điều khiển xe ch T2 ngồi phía sau cầm máy quay phim hiệu Sony màu trắng đen, loại 2 8 Megapixels chạy về Trung tâm thương mại thành ph S, L4 thì cầm đèn chiếu Camera ch H2 chạy phía sau S1, còn T điều khiển xe chạy về nhà Sau khi về đến Trung tâm thương mại thành ph S, T2 và L4 đưa lại máy quay phim cùng đèn chiếu Camera cho S1 cất giấu vào c p xe mô tô biển s 63B7-060.89.

Qua điều tra, xác minh đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thành ph Sa Đ c tiến hành mời T đến tr s làm việc Tại đây, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thu giữ toàn bộ tài sản mà T, S1 và T2 đã chiếm đoạt của bà T5.

Tại biên bản và kết luận định giá tài sản s 29/HĐĐGTS ngày 10/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản thành ph Sa Đ c kết luận:

- 01 (một) máy quay phim hiệu Sony, màu trắng đen, loại 1 5 Megapixels (đã qua sử d ng) có giá trị định giá là 600 000 đồng;

- 01 (một) máy quay phim hiệu Sony, màu trắng đen, loại 2 8 Megapixels (đã qua sử d ng) có giá trị định giá là 1 400 000 đồng;

- 01 (một) đèn chiếu Camera hiệu Kttelecop màu xám (đã qua sử d ng) có giá trị định giá là 600 000 đồng

Tổng giá trị tài sản là 2.600.000 đồng.

Tại biên bản và kết luận định giá tài sản s 30/HĐĐGTS ngày 10/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản thành ph Sa Đ c kết luận:

- 01 (một) tấm kính cửa loại 03mm , kích thước 0,75x0,49 m t có giá trị định giá là 42.500 đồng.

Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra Công an thành ph Sa Đ c đã trao trả:

- 01 máy quay phim hiệu Sony, màu trắng đen, loại 1 5 Megapixels

- 01 máy quay phim hiệu Sony, màu trắng đen, loại 2 8 Megapixels.

- 01 đèn chiếu Camera hiệu Kttelecop màu xám

cho bà Phan Thị T5 nhận lại xong

Các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Quách Văn S1 và Huỳnh Thanh T2 đã thỏa thuận bồi thường cho bà T5 trị giá tấm kính bị hư hỏng s tiền 42 500 đồng Bà T5 đã nhận xong và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo

Tại bản cáo trạng s 42/CT-VKS ngày 30/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành ph Sa Đ c đã truy t các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Quách Văn S1, Huỳnh Thanh T2 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 135 của Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Sa Đéc trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy t và đề nghị:

p d ng Khoản 1 Điều 135, Điểm b, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Điều 60, của Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim T về tội “Cưỡng đoạt tài sản” với mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hư ng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng tháng đến 36 tháng.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T2 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” với mức án từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. nhưng cho hư ng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.

p d ng Khoản 1 Điều 135, Điểm b, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, của Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Quách Văn S1 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” với mức án từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị các vấn đề khác theo quy định pháp luật

Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt

Người bị hại không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ s xem x t đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia t t ng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Quách Văn S1, Huỳnh Thanh T2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình Lời khai của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người bị hại, người làm chứng, biên bản và kết luận định giá tài sản các s 29/HĐĐGTS, 30/HĐĐGTS cùng ngày 10/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản thành ph Sa Đ c và các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ v án

Qua đó đủ cơ s xác định: Khoảng 14 giờ ngày 30/6/2017 tại hộ s 131, ấp L2, xã D1, thành ph S, các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Quách Văn S1 và Huỳnh Thanh T2 có hành vi t tập đông người và uy hiếp tinh thần đ i với bà Phan Thị T5 làm cho bà T5 lo sợ và T, S1, T2 đã chiếm đoạt tài sản của bà T5 gồm: 01 máy quay phim hiệu Sony, màu trắng đen, loại 1 5 Megapixels; 01 máy quay phim hiệu Sony, màu trắng đen, loại 2 8 Megapixels và 01 đèn chiếu Camera hiệu Kttelecop màu xám Tổng trị giá tài sản là 2.600.000 đồng nhằm m c đích v lợi cá nhân

Các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Quách Văn S1, Huỳnh Thanh T2 đều là người đã thành niên nên các bị cáo nhận thức được quyền s hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ Hành vi xâm phạm trái pháp luật tài sản của người khác, dù bằng hình thức nào, đều vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý Thế nhưng, chỉ vì mu n đòi lại s tiền mà bà T5 đã nợ của bị cáo T nhưng bà T5 chưa có điều kiện để trả nợ, các bị cáo đã có hành vi t tập đông người để uy hiếp tinh thần đ i với bà T5 nhằm làm cho bà T5 lo sợ và chiếm đoạt tài sản g m: 01 máy quay phim hiệu Sony, màu trắng đen, loại 1 5 Megapixels; 01 máy quay phim hiệu Sony, màu trắng đen, loại 2 8 Megapixels và 01 đèn chiếu Camera hiệu Kttelecop màu xám Tổng trị giá tài sản là 2 600 000 đồng nhằm m c đích v lợi cá nhân

Hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền s hữu tài sản của người khác, gây ảnh hư ng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương

Các bị cáo phạm tội với lỗi c ý, động cơ m c đích v lợi cá nhân Thủ đoạn thực hiện tội phạm của bị cáo táo bạo, liều lĩnh: thời gian phạm tội là vào ban ngày, đòa điểm phạm tội là tại hộ thuộc ấp L2, xã D1, thành ph S, có người bị hại và những người khác đang trong nhà, nếu thực hiện việc chiếm đoạt sẽ dễ bị phát hiện và sẽ bị t cáo và bị bắt, nhưng các bị cáo không sợ sệt, các bị cáo đã ngang nhiên, công khai t tập đông người để uy hiếp tinh thần, làm cho bà T5 lo sợ và chiếm đoạt tài sản của bà T5 với tổng giá trị là 2 600 000 đồng nhằm m c đích v lợi cá nhân

Trong v án này vai trò của từng bị cáo thể hiện như sau:

- Bị cáo Nguyễn Thị Kim T là ph nữ có gia đình và có con, lẽ ra bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, chăm lo cho gia đình, s ng tuân theo pháp luật để làm tấm gương t t cho con, cháu noi theo V việc bà T5 nợ tiền của bị cáo đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết và đang trong giai đoạn thi hành án Lẽ ra bị cáo phải chờ kết quả giải quyết của cơ quan có thẩm quyền hoặc đến liên hệ với cơ quan này để hỏi về việc giải quyết v việc của bị cáo Thế nhưng chỉ vì mu n đòi lại s tiền mà bà T5 đã nợ của bị cáo nhưng chưa có điều kiện trả, bị cáo đã chủ động đến nhà của bà T5 để đòi nợ, nhưng do bà T5 và ông L3 không có tiền trả nên bị cáo đã điện thoại cho con là bị cáo T2 đến giúp bị cáo đòi nợ Sau khi các bị cáo T2, S1 và hai người bạn của S1 đến nhà bà T5, do bên phía bị cáo có đông người nên đã uy hiếp tinh thần, làm cho bà T5 sợ hãi và các bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của bà T5 trị giá 2 600 000đ. Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu t cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”, quy định tại Khoản 1 Điều 135 của Bộ luật Hình sự Do đó, bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự trong v án này với vai trò rủ rê, thực hành tích cực

- Bị cáo Quách Văn S1 cũng là người đã thành niên, có gia đình và có con, lẽ ra bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, c gắng lao động, làm ăn chân chính để chăm lo cho gia đình và nuôi dạy con cái Thế nhưng khi được T2 cho biết bị cáo T đang đòi nợ nhà bà T5 và xảy ra cự cải thì bị cáo đã chủ động rủ thêm hai người bạn của bị cáo cùng đi đến nhà bà T5 Khi đến nhà bà T5, do bên phía bị cáo là thanh niên, có đông người nên đã uy hiếp tinh thần, làm bà T5 lo sợ, bị cáo là người trực tiếp dùng tay giật cửa tủ kính bung ra để chiếm đoạt các tài sản của bà T5, đưa cho L4 một đèn chiếu Camera, đưa cho T2 một máy quay phim, bị cáo trực tiếp cầm một máy quay phim để vào c p xe mang về. Hành vi của bị cáo S1 đã đủ yếu t cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”, quy định tại Khoản 1 Điều 135 của Bộ luật Hình sự Do đó, bị cáo S1 phải chịu trách nhiệm hình sự trong v án này với vai trò đồng phạm, thực hành tích cực

- Bị cáo Huỳnh Thanh T2 là ph nữ, đã có gia đình và có con, lẽ ra bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, chăm lo cho gia đình, nuôi dưỡng con cái, làm tấm gương t t để con cái noi theo Thế nhưng sau khi được bị cáo T điện thoại cho biết đang đòi nợ nhà bà T5 và phát sinh cự cải thì bị cáo đã cùng với bị cáo S1 và hai người bạn của S1 đến nhà bà T5 Lẽ ra, nếu là một người biết cách cư xử, biết tuân thủ theo pháp luật thì khi thấy bị cáo T và bà T5 đang cự cải với nhau, bị cáo phải biết khuyên can bị cáo T và kêu bị cáo T đi về và liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để giải quyết v việc, trái lại khi đến nhà bà T5, bị cáo đã cùng với T tiếp t c cự cải với bà T5 và cùng với bị cáo S1 và những người khác uy hiếp tinh thần, làm bà T5 lo sợ để chiếm đoạt tài sản của bà T5, bị cáo đã trực tiếp cầm 01 máy quay phim do bị cáo S1 đưa mang về đưa cho S1 cất vào c p xe. Hành vi của bị cáo T2 đã đủ yếu t cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”, quy định tại Khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự Do đó, bị cáo T2 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình với vai trò đồng phạm, giúp sức tích cực

Điều 135 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Ngư i nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần ngư i khác nhằm chiếm đoạt tài sản thì bị phạt tù từ một năm dến năm năm.

2. ……...”

X t thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là táo bạo liều lĩnh, thể hiện sự xem thường pháp luật, ảnh hư ng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương Các bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa X t thấy, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo Do đó, Hội đồng x t xử x t thấy cần phải xử lý các bị cáo về mặt hình sự, để giáo d c, cải tạo các bị cáo thành công dân t t, tu dưỡng bản thân, có ý thức chấp hành pháp luật, nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: X t thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo ăn năn h i cải nhận thức được lỗi của mình, thành khẩn khai báo, tài sản đã thu hồi và hoàn trả cho bị hại xong, tự nguyện khắc ph c hậu quả, bồi thường thiệt hại, người bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo có người thân tham gia kháng chiến được Nhà nước trao tặng nhiều huân chương và công nhận Liệt sĩ đ i với ông Quách Thành Q1 (ông nội S1), các bị cáo có nhân thân t t, chưa tiền án, tiền sự, bị cáo T lớn tuổi, đang nuôi hai cháu nhỏ, bị cáo T2 đang nuôi con nhỏ nên không cần thiết cách ly các bị cáo T, T2 ra khỏi xã hội mà chỉ cần cải tạo, giáo d c tại địa phương là đủ để răn đe đ i với các bị cáo T, T2, do đó áp d ng Điểm b, p, Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự để xem x t trong việc quyết định hình phạt đ i với các bị cáo T, T2. Đ i với bị cáo S1 áp d ng Điểm b, p, Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự để xem x t trong việc lượng hình đ i với bị cáo S1.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Quách Văn S1, Huỳnh Thanh T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật

Đ i với hai người thanh niên tên L4 và H2 có hành vi cùng các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Quách Văn S1, Huỳnh Thanh T2 uy hiếp tinh thần của bà T5 nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng không rõ lai lịch Cơ quan điều tra Công an thành ph Sa Đ c tiếp t c xác minh, điều tra, làm rõ, xử lý sau

Đ i với xe mô tô biển s 63B7-060 89, qua điều tra xác định thuộc s hữu của ông Quách Văn B1, bị cáo S1 mượn dùng vào việc phạm tội nhưng ông B1 không biết nên không xem x t xử lý

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Quách Văn S1, Huỳnh Thanh T2 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

- p d ng Khoản 1 Điều 135, Điểm b, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 53, Điều 60 của Bộ luật Hình sự:

+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kim T mức án 01 năm 03 tháng tù (Một năm ba tháng tù) nhưng cho hư ng án treo Thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng, kể từ ngày hôm nay tuyên án (ngày 18/9/2017)

Giao bị cáo Nguyễn Thị Kim T về Ủy ban nhân dân Phường 2, thành ph Sa Đ c giám sát, giáo d c trong thời gian thử thách Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Luật thi hành án hình sự năm 2010

+ Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thanh T2 mức án 01 năm tù (Một năm tù) nhưng cho hư ng án treo Thời gian thử thách là 02 năm, kể từ ngày hôm nay tuyên án (ngày 18/9/2017).

Giao bị cáo Huỳnh Thanh T2 về Ủy ban nhân dân xã Tân Quy Tây, thành ph Sa Đ c giám sát, giáo d c trong thời gian thử thách Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Luật thi hành án hình sự năm 2010 ”

- p d ng Khoản 1 Điều 135, Điểm b, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 20, Điều 53 của Bộ luật Hình sự:

+ Xử phạt: Bị cáo Quách Văn S1 mức án 04 tháng tù (Bốn tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2017 (ngày tạm giữ).

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong

Về án phí: p d ng Điều 99 Bộ luật T t ng hình sự và Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016:

Các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Quách Văn S1, Huỳnh Thanh T2 mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp

Cỡ chữ