vanban.org

Bản án 38/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước Tuyên án 10/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ RIỀNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2021/HSST
Ngày: 10/8/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG – TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào H Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tạ Văn Khách

2. Ông Hồ Viết Trung

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Chu Ngo ̣c Phú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 50/2021/HSST ngày 12 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Đức H (tên gọi khác: H Joóc), sinh năm 1991 tại Bình Phước; HKTT: Thôn 4, xã L, huyện R, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Đức H, sinh năm 1954 và bà Lê Thị L, sinh năm 1958; Vợ là Vũ Thị C, sinh năm 1992 (đã ly hôn năm 2020) và có 01 người con, sinh năm: 2012.

Tiền án: Ngày 27/11/2019, bị TAND huyện R, tỉnh Bình Phước xử phạt 10 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 66/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 01/6/2020.

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/02/2021 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ông Lê Đắc S, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1976. Cùng trú tại: Thôn 4, xã L, huyện R, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Đức H, sinh năm 1954. Trú tại: Thôn 4, xã L, huyện R, tỉnh Bình Phước. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do biết nhà ông Lê Đắc S có một máy bơm nước đặt dưới giếng khoan nên Lê Đức H nảy sinh ý định lấy trộm máy bơm nước của gia đình ông Sáu bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 12 giờ, ngày 28/12/2020, H đi xuống nhà bếp của gia đình lấy 01 con dao (loại dao thái thịt) dài 40cm, lưỡi bằng kim loại màu đen, trắng dài 28,5cm, cán dao bằng gỗ màu vàng dài 11,5cm, bản lưỡi dao rộng nhất 07cm rồi đi đến nhà ông Lê Đắc S (cách nhà H khoảng 400m). Tại đây, H thấy nhà ông Sáu đang đóng cửa chính nên H đi đến khu vực giếng khoan rồi cầm dao tay phải chặt 02 cái làm đứt lìa hai đầu ống nước (loại ống nhựa) nối trực tiếp với máy bơm và lại mở nắp bêtông đậy giếng để kéo máy bơm nước lên (bút lục 74, 75, 79, 80). Ngay lúc này, anh Lê Đắc H (là con ông Sáu) và bà Nguyễn Thị U (là vợ ông S) đang ở trong nhà nghe có tiếng động nên Hoàng mở cửa sổ bên hông nhà nhìn ra, phát hiện H đang mở nắp bê tông đậy giếng nhằm để kéo máy bơm lên thì Hoàng hỏi H “làm gì vậy”, H trả lời: “anh vả quá rồi” nên Hoàng và bà Uý chạy ra giữ H lại rồi Hoàng gọi điện thoại báo sự việc cho ông Sáu biết. Sau đó, ông Sáu trình báo sự việc đến Công an xã Long Tân và Công an huyện Phú Riềng.

Tại Cơ quan huyện Phú Riềng, Lê Đức H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Tang vật thu giữ gồm:

- 01 máy bơm nước tròn hình trụ (Loại máy bơm hỏa tiễn đặt dưới giếng khoan), dài 91cm, máy bơm bằng kim loại, màu ánh kim vàng, loại máy 1.5HP, nhãn hiệu: BTT Submersible Motor, đường kính đầu lớn 9,5cm, đường kính đầu nhỏ 09cm.

- 01 đoạn ống nhựa hình tròn, nhãn hiệu Bình Minh, loại ống đường kính 34mm, được lắp ráp, nối với nhau bởi 02 cút và 01 tê, kích thước dài 43,5cm, rộng 40cm, cao 15cm.

- 01 con dao dài 40cm, cán bằng gỗ màu vàng dài 11,5cm; lưỡi dao bằng kim loại màu đen, trắng dài 28,5cm; Mũi dao bằng, bản lưỡi rộng nhất 07cm, trên lưỡi dao có 01 lỗ tròn.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 08/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Phú Riềng xác định: Tại ngày 28/12/2020 giá trị của máy bơm nước (loại bơm hỏa tiễn) hiệu BTT Submersible Motor, loại máy 1.5HP là 2.187.500 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 27/CTr-VKS ngày 09/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lê Đức H mứ c án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Ngoài ra Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng còn đề nghị xử lý về vật chứng và trách nhiệm dân sự theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức H khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thừa nhận hành vi phạm tội, cũng như tội danh theo bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát huyện Phú Riềng đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo, người bị hại cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến. Tại phiên tòa, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người bị hại ông Lê Đắc S bà Nguyễn Thị Ú vắng mặt, Kiểm sát viện, bị cáo đều thống nhất ý kiến xét xử vắng mặt người bị hại. Xét việc vắng mặt của người bị hại không gây cản trở cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo Lê Đức H tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, người bị hại, người làm chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố. Phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, hành vi của bị cáo, phù hợp với các vật chứng đã được thu giữ. Do đó có đủ cơ sở để kết luận: Do muốn có tiền tiêu sài cá nhân, nên vào khoảng hơn 12 giờ, ngày 28/12/2020, tại Thôn 4, xã L, huyện R, tỉnh Bình Phước, Lê Đức H lợi dụng việc vợ chồng ông Lê Đắc S bà Nguyễn Thị Úy không có người trông coi tài sản, Lê Đức H đã lén lút nhằm chiếm đoạt 01 máy bơm nước tròn hình trụ nhãn hiệu BTT Submersible Motor. Căn cứ kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 08/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Phú Riềng xác định: giá trị của máy bơm nước (loại bơm hỏa tiễn) hiệu BTT Submersible Motor, loại máy 1.5HP, tại thời điểm ngày 28/12/2020 là 2.187.500 đồng. Hành vi bị cáo Lê Đức H đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng truy tố bị cáo Lê Đức H về tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản của người bị hại thì bị phát hiện. Nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15 Bộ luật hình sự.

Về tính chất mức độ tội phạm:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, hành vi của bị cáo gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hinh pha ̣t tương x ứng với hành vi

̀ phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bản thân bị cáo Lê Đức H là người có nhân thân xấu. Ngày 27/11/2019, bị xử phạt 10 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 66/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích. Nay bị cáo H lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới nên thuộc trường hợp “tái phạm”. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn, hơn nữa bị cáo chưa chiếm đoạt được. Ngoài ra theo các lời khai trong quá trình điều tra, người bị hại ông Lê Đắc S, bà Nguyễn Thị Ú đều có đề nghị xin giảm trách nhiệm, hình phạt đối với bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ về hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 máy bơm nước tròn hình trụ (Bơm hỏa tiễn đặt dưới giếng khoan), dài 91cm, máy bơm bằng kim loại, màu ánh kim vàng, loại máy 1.5HP, nhãn hiệu: BTT Submersible Motor, đường kính đầu lớn 9,5cm, đường kính đầu nhỏ 9cm; 01 (Một) đoạn ống nhựa hình tròn, nhãn hiệu Bình Minh, loại ống đường kính 34mm, được lắp ráp, nối với nhau bởi 02 cút và 01 tê, kích thước dài 43,5cm, rộng 40cm, cao 15cm là tài sản hợp pháp của ông Lê Đắc Sáu. Ngày 29/01/2021, Cơ quan Công an huyện Phú Riềng quyết định xử lý vật chứng trả lại cho người bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét;

Đối với 01 con dao dài 40cm, cán bằng gỗ màu vàng dài 11,5cm; lưỡi dao bằng kim loại màu đen, trắng dài 28,5cm; Mũi dao bằng, bản lưỡi rộng nhất 07cm, trên lưỡi dao có 01 lỗ tròn. Quá trình điều tra xác định là của gia đình ông Lê Đức Huynh nên cần trả lại cho ông Huynh.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

́

QUYÊT ĐỊNH:

. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lê Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản” (chưa đạt).

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 15; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Đức H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/02/2021.

. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên trả cho ông Lê Đức Huỳnh 01 con dao dài 40cm, cán bằng gỗ màu vàng dài 11,5cm; lưỡi dao bằng kim loại màu đen, trắng dài 28,5cm; mũi dao bằng, bản lưỡi rộng nhất 07cm, trên lưỡi dao có 01 lỗ tròn. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Phú Riềng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Riềng)

. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Đức H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định.

Cỡ chữ