- Tranh chấp gì? án hình sự — ""Hủy hoại tài sản" đối với bị cáo Trần Chí H - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Lê Ngọc H1, về việc yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét áp dụng hình phạt tù với mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với bị cáo Trần Chí H. Giữ nguyên quyết định về hình phạt đối với bị cáo Trần Chí H của Bản án hình sự sơ thẩm số 66/…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2026/HS-PT. Ngày: 18/3/2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Vũ;
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Thọ;
Ông Bùi Thanh Quốc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lâm Dạ Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 18/3/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ (Số A, đường N, phường A, thành phố Cần Thơ), xét xử phúc thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2026/TLPT-HS ngày 03/02/2026 đối với bị cáo Trần Chí H do có kháng cáo của bị hại Trần Lê Ngọc H1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực X - Cần Thơ.
- Bị cáo bị kháng cáo: Trần Chí H; sinh ngày: 25/12/1978; nơi sinh: thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: Số E, hẻm E, đường C, phường N, thành phố Cần Thơ (Số E, hẻm E, đường C, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ cũ); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu C và bà Nguyễn Thị L; có vợ là bà Lê Thị L1, sinh năm 1989 và 02 người con, người con lớn sinh năm 2007, người con nhỏ sinh năm 2012; tiền án: không; tiền sự: không. (có mặt)
- Bị hại có kháng cáo: Bà Trần Lê Ngọc H1; sinh ngày: 09/10/2005; nơi cư trú: Số E, hẻm E, đường C, phường N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Dương Minh L2
- luật sư của Văn phòng luật sư Dương Minh L2 và cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố C; địa chỉ Văn phòng: Số C, khu vực Bình Thường A, phường L, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Người làm chứng:
1. Bà Lê Thị M; sinh năm: 1980; nơi cư trú: Số E, hẻm E, đường C, phường N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
2. Bà Lê Thị L1; sinh năm: 1989; nơi cư trú: Số E, hẻm E, đường C, phường N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
3. Ông Trần Lê Phước Đ; sinh năm: 2007; nơi cư trú: Số E, hẻm E, đường C, phường N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn về việc phân chia tài sản, đất đai, vào lúc khoảng 11 giờ 50 phút ngày 10/4/2025, tại trước nhà số E, hẻm E, đường C, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ (nay là phường N, thành phố Cần Thơ) xảy ra cự cãi, xô xát, đánh nhau giữa gia đình bà Lê Thị M với gia đình bà Lê Thị L1. Khi đó, bị cáo Trần Chí H thấy bà L1 (là vợ của bị cáo) bị Trần Lê Ngọc H1 đánh nên bị cáo đã nắm tóc của bà H1 kéo ra. Sau đó, bị cáo H bị té ngã thì bị bà H1 dùng tay đánh vào vùng cổ của H và bà H1 bị rớt điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, dung lượng 128GB. Lúc này, bị cáo H đã nhặt lấy 01 cục bê tông đập xuống điện thoại di động của bà H1 làm điện thoại bị hư hỏng, H tiếp tục nhặt cục bê tông lên thì được người khác can ngăn.
Tại Kết luận định giá tài sản số 938/KL-HĐĐG ngày 08/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của quận N, thành phố Cần Thơ kết luận: 01 Iphone 14 Pro Max, màu tím số IMEI 353751255491020 dung lượng 128GB, không rõ tình trạng bên trong, đã qua sử dụng của Trần Lê Ngọc H1 bị hư hỏng hoàn toàn có giá trị là 15.000.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, bị hại H1 yêu cầu xử lý bị cáo H về hành vi cướp giật bông tai của bà H1 trong lúc xô xát, đánh nhau. Tuy nhiên, theo kết quả điều tra, không có chứng cứ chứng minh việc bị cáo H cướp giật tài sản của bị hại H1.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực X - Cần Thơ quyết định như sau:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025).
- Tuyên bố bị cáo Trần Chí H phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Trần Chí H số tiền 20.000.000 đồng.
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và bị hại.
* Ngày 29/12/2025, bị hại Trần Lê Ngọc H1 nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét áp dụng hình phạt tù với mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với bị cáo Trần Chí H.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị hại Trần Lê Ngọc H1 giữ nguyên nội dung kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét áp dụng hình phạt tù với mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với bị cáo Trần Chí H.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ về việc giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Trần Chí H phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo H có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng đối với bị cáo H các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) là đúng quy định của pháp luật. Xét bị cáo nhất thời phạm tội, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H mức hình phạt 20.000.000 đồng là phù hợp, tương xứng với mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị hại không cung cấp được còn tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào đáng lẽ phải áp dụng đối với bị cáo nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng hoặc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo không đúng nên không có căn cứ sửa bản án sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù. Từ những cơ sở trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025), không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Lê Ngọc H1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Trần Lê Ngọc H1: Trong vụ án này, khi xử lý trách nhiệm của những người tham gia xô xát thì chính quyền địa phương và cơ quan Công an thể hiện thái độ bênh vực, thiên vị đối với bị cáo, bị cáo có tham gia gây rối trật tự công cộng nhưng cơ quan Công an không xử phạt hành chính đối với bị cáo nên bị cáo được xác định là người có nhân thân tốt. Khi bị cáo cầm cục bê tông định tấn công bị hại nhưng được can ngăn nên bị cáo không gây thương tích được cho bị hại, điều này thể hiện ý chí của bị cáo là muốn gây thương tích cho bị hại. Cơ quan điều tra thiếu khách quan khi không đưa các đoạn clip ghi lại toàn bộ sự việc xô xát giữa gia đình bị cáo và bị hại tại khu nhà trọ. Từ những nội dung trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét xử phạt tù đối với bị cáo Trần Chí H với mức là từ 06 tháng đến 03 năm tù.
- Nói lời sau cùng tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Chí H thống nhất bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị hại Trần Lê Ngọc H1 lập và nộp ngày 29/12/2025 là đúng quy định của pháp luật về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025). Căn cứ vào các điều 342 và 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025), Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị hại Trần Lê Ngọc H1, về việc yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét xử phạt tù đối với bị cáo Trần Chí H với mức là từ 06 tháng đến 03 năm tù theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Chí H như sau: Bị cáo Trần Chí H là chú ruột của bị hại Trần Lê Ngọc H1. Do mâu thuẫn về việc phân chia tài sản, đất đai, vào lúc khoảng 11 giờ 50 phút ngày 10/4/2025, tại trước nhà số E, hẻm E, đường C, phường N, thành phố Cần Thơ đã xảy ra sự việc cự cãi, xô xát, đánh nhau giữa gia đình bà Lê Thị M với gia đình bà Lê Thị L1. Khi đó, bị cáo H thấy bà L1 (là vợ của bị cáo) bị bà Trần Lê Ngọc H1 đánh nên bị cáo đã nắm tóc của bà H1 kéo ra. Sau đó, bị cáo H bị té ngã thì bị bà H1 dùng tay đánh vào vùng cổ của H và bà H1 bị rớt điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, dung lượng 128GB. Lúc này, bị cáo H đã nhặt lấy 01 cục bê tông đập xuống điện thoại di động của bà H1 làm điện thoại bị hư hỏng hoàn toàn. Theo kết luận định giá, điện thoại di động của bà H1 có giá trị là 15.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Trần Chí H phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) là căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo của bị hại Trần Lê Ngọc H1, về việc yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét áp dụng hình phạt tù với mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với bị cáo Trần Chí H: Xét Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo H là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã nộp số tiền 15.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên việc Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Trong vụ án này, bị cáo nhất thời phạm tội và cũng xuất phát từ một phần lỗi của bị hại khi bị hại đánh vợ của bị cáo trước, xét Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo và xử phạt bị cáo 20.000.000 đồng là tương xứng, phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định không còn tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào đáng lẽ bị cáo phải bị áp dụng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng đối với bị cáo nên không có cơ sở tăng hình phạt đối với bị cáo. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cho rằng chính quyền địa phương và cơ quan Công an thể hiện thái độ bênh vực, thiên vị đối với bị cáo; bị cáo cầm cục bê tông có ý định tấn công bị hại, gây thương tích cho bị hại và Cơ quan điều tra thiếu khách quan khi không đưa các đoạn clip ghi lại toàn bộ sự việc xô xát giữa gia đình bị cáo và bị hại tại khu nhà trọ nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, căn cứ vào khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025), không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Lê Ngọc H1, giữ nguyên quyết định về hình phạt đối với bị cáo Trần Chí H của bản án sơ thẩm.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025) và khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị hại Trần Lê Ngọc H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025).
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Lê Ngọc H1, về việc yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét áp dụng hình phạt tù với mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với bị cáo Trần Chí H. Giữ nguyên quyết định về hình phạt đối với bị cáo Trần Chí H của Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực X - Cần Thơ.
2. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) đối với bị cáo Trần Chí H.
Xử phạt bị cáo Trần Chí H số tiền 20.000.000 đồng (hai triệu đồng) về tội “Hủy hoại tài sản”.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm:
- Căn cứ vào: khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025) và khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị hại Trần Lê Ngọc H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Vụ GĐ, KT 1-TANDTC (01); - VKSND TP. Cần Thơ (01); - TAND khu vực X - Cần Thơ (02); - VKSND khu vực X - Cần Thơ (01); - CQCSĐT - Công an TP. Cần Thơ (02); - CQTHAHS - Công an TP. Cần Thơ (02); - Phòng THADS khu vực X - Cần Thơ (01); - UBND, Công phường Ninh Kiều, TP. Cần Thơ (02); - Bị cáo (01); - Người TGTT khác (3); - P.GĐ, KT, TTr & THA-TAND TP. CT (01); - Phòng HSNV-Công an TP. Cần Thơ (01); - Lưu HSVA, THS (04). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Lê Thanh Vũ |