vanban.org

Bản án 38/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Kim D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hoàng Kim D 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 12/8/2025. Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Hoàng Kim D 5.000.000 đồng sung quỹ nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Kim D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2026/HSST
Ngày: 13 - 5 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hậu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trường Ca và ông Trương Mạnh Hùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hồng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đức - Kiểm sát viên.

- Cán bộ hỗ trợ tổ chức phiên toà trực tuyến:

+ Ông Nghiêm Xuân Anh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng;

+ Bà Nguyễn Thị La – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng.

+ Ông Nguyễn Văn Sơn – Cán bộ trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hải Phòng.

Ngày 13 tháng 5 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng và điểm cầu thành phần là Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2026/TLST - HS ngày 09 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2026/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 4 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2026/QĐST-HS ngày 23/4/2026 đối với bị cáo:

Hoàng Kim D, sinh năm 1986; số căn cước công dân: 030086009071; nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã Nam Sách, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn V, xã Nam Sách, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Kim H (đã chết) và bà Chu Thị P; vợ là Nguyễn Thị L (đã ly hôn); tiền án, tiền sự:

Tiền án:

- Bản án số 58/2013/HSST ngày 27/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt Hoàng Kim D 34 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. D chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/4/2016, nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 12/3/2014.

- Bản án số 48/2016/HSST ngày 13/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt Hoàng Kim D 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. D chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/01/2019, nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 26/5/2017.

- Bản án số 08/2021/HSST ngày 22/03/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt Hoàng Kim D 27 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. D chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/01/2024, nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 13/5/2024.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2025, đến ngày 18/8/2025 chuyển tạm giam. Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại số 02 - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Trần Mạnh H, sinh năm 1989; số căn cước công dân: 030089023542; địa chỉ: Thôn H, xã Nam Sách, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu mua ma túy về bán kiếm lời nên sáng ngày 02/8/2025, Hoàng Kim D đi xe ôm từ nơi ở tại thôn V, xã Nam Sách, thành phố Hải Phòng đến ga Tiền Trung rồi đi xe khách (D không biết người lái xe ôm và hãng xe, biển số xe khách) đến khu vực cầu An Dương, phường An Hải, thành phố Hải Phòng mua của 01 người phụ nữ tên gọi Cún (D không biết họ tên thật, tuổi và địa chỉ của Cún) được 01 túi ma tuý, loại Methamphetamine với số tiền 8.000.000 đồng, người này còn cho D 01 cân điện tử và các vỏ túi nilon. D cất giấu ma túy trong người và đi xe khách về nơi ở. Tại đây D sử dụng cân tiểu ly để chia nhỏ số ma túy đã mua vào các túi nilon để bán kiếm lời. Cụ thể như sau:

- Trưa ngày 07/8/2025, Phùng Văn T nhắn tin qua ứng dụng Messenger bằng nick “Phùng Tài” đến nick Messenger “Hoang Dung” của D hỏi mua 4.000.000 đồng ma túy đá. D đồng ý rồi gửi số tài khoản 19074606641014 ngân hàng Techcombank mang tên Trần Mạnh H (tài khoản do D mượn của anh Trần Mạnh H) để Tài chuyển khoản tiền mua ma túy. Khi nhận được tiền, D bảo Tài đi đến phòng trọ của D ở thôn Vạn Tải Đông, xã Nam Sách, thành phố Hải Phòng để lấy ma túy. Khi đến nơi, Tài theo chỉ dẫn của D thấy trên bờ tường gạch cạnh cổng phòng trọ của D có 01 gói nilon quấn băng dính đen, biết là túi ma túy do D để nên Tài cầm lấy. Sáng ngày 12/8/2025, Tài tiếp tục nhắn tin cho D để hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy. D đồng ý bán nên Tài đã chuyển khoản số tiền trên vào tài khoản D cho trước đó rồi đi đến khu vực phòng trọ của D nhận ma túy tương tự như lần trước. Tài đã bán ma túy cho một số đối tượng và đang bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng khởi tố trong vụ án khác.

- Sáng ngày 08/8/2025, Trần Danh Đ nhắn tin từ nick zalo “Ken” đến nick zalo “Dungns” của D hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá. D đồng ý và gửi số tài khoản 19074606641014 ngân hàng Techcombank mang tên Trần Mạnh H cho Đ để Đ chuyển khoản tiền mua ma túy. Khi nhận được tiền, D bảo Đ lên cổng phòng trọ của D để lấy ma túy. Khi đến nơi, D nói với Đ: “anh vứt ngoài đường đấy”. Đông hiểu ý D nên tìm và nhặt một túi nilon màu trắng bên trong có chứa ma túy được để ở dưới chân tường sát cổng nhà. Số ma túy Đ mua được đã sử dụng hết. Ngày 10/8/2025 và 12/8/2025, Đ lại tiếp tục liên lạc bằng zalo như trên với D để mua ma túy, mỗi ngày Đ mua 01 lần với số tiền mua mỗi lần là 500.000 đồng ma túy của D để sử dụng cho bản thân, sau đó đã sử dụng hết.

- Khoảng 22 giờ ngày 09/8/2025 có Đặng Văn T nhắn tin qua ứng dụng Messenger từ nick “Tiệp Túm Tỏi” đến nick “Hoang Dung” của D để hỏi mua 480.000 đồng ma túy. D đồng ý và bảo T chuyển tiền vào số tài khoản 19074606641014 ngân hàng Techcombank mang tên Trần Mạnh H. Khi nhận được tiền, D bảo T đi đến phòng trọ của D để lấy ma túy. D để ma túy ngoài đường và bảo T “anh vứt ngoài đường”. T hiểu ý nên đã tìm và nhặt túi nilon màu trắng bên trong có chứa ma túy được để ở dưới chân tường sát cổng phòng trọ của D. Sau đó T đi về và sử dụng hết số ma túy trên.

Trưa ngày 10/8/2025, Hoàng Kim D tiếp tục đi xe ôm từ nơi ở đến ga Tiền Trung rồi đi xe khách (D không biết người lái xe ôm và hãng xe, biển số xe khách) đến khu vực cầu An Dương, Phường An Hải, thành phố Hải Phòng mua của người phụ nữ tên gọi là Cún 01 túi ma tuý đá, loại Methamphetamine với số tiền 4.000.000 đồng. Lần này Cún cho D thêm 01 viên ma tuý hồng phiến. Sau khi mua được ma tuý, D mang về chia nhỏ số ma túy trên và cất giấu tại chỗ ở của D mục đích bán kiếm lời. Tối ngày 11/8/2025, D lấy viên ma tuý hồng phiến ra để D sử dụng hết. Đến 20 giờ 25 phút ngày 12/8/2025, D mang số ma tuý còn lại cất giấu trong người đi ra ngoài để xem có ai mua thì bán. Khi D vừa đi ra ngoài cổng nhà trọ ở thôn V, xã Nam Sách, thành phố Hải Phòng thì bị Công an xã Nam Sách phát hiện bắt quả tang. Lực lượng Công an thu giữ trong lòng bàn tay trái D đang cầm 01 túi nilon màu trắng, kích thước (2,6 x 2) cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, thu giữ trong túi quần bên trái D đang mặc 01 túi nilon màu trắng, kích thước (8,6 x 5) cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. D khai nhận đó đều là các túi ma tuý, loại Methamphetamine cất giấu mục đích bán kiếm lời, nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt giữ.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Kim D tại thôn V, xã Nam Sách, thành phố Hải Phòng, thu giữ: 56 vỏ túi ni long màu trắng; 01 vỏ chai nhựa, trên lắp chai có hai lỗ tròn được cắm 02 ống hút nhựa màu đen; 01 cân điện tử màu bạc.

Tại kết luận giám định số 3004/KL-KTHS ngày 18/10/2025, Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Trong đối tượng giám định tìm thấy: 824 cuộc gọi, 438 danh bạ, 09 tin nhắn tức thì, 09 cuộc trò chuyện Native Messager, 07 tin nhắn Recents, 176 cuộc trò chuyện Zalo, 100 hình ảnh chụp màn hình thể hiện nội dung tin nhắn Messenger được lưu trên điện thoại. Nội dung chi tiết các dữ liệu được lưu trong đĩa CD kèm theo. Không tìm thấy dữ liệu lưu trên sim.

Tại Kết luận giám định số 750/KL-KTHS ngày 15/8/2025, Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng kích thước (2,6 x 2) cm của mẫu M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,240 gam. Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng kích thước (8,6 x 5) cm của mẫu M2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 6,425 gam.

Tại bản cáo trạng số 04/CT- VKSKV9 ngày 06/3/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo Hoàng Kim D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên toà:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nêu trên, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng đối với bị cáo là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Kim D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b, i, q khoản 2, khoản 5 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Kim D từ 09 năm tù đến 09 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/8/2025. Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì dán kín số 750MT/PC09, có các chữ ký ghi họ tên Khúc Quang Tuấn, Nguyễn Văn Đoàn, Đặng Đình Châu và các hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng; 56 túi ni lông màu trắng, có viền màu xanh, kích thước (2 x 2,5) cm; 01 vỏ chai nhựa, loại 480ml, có in chữ “ICE+ Nước vị trái cây” lắp chai màu xanh, trên lắp chai có hai lỗ tròn được cắm 02 ống hút nhựa màu đen; 01 cân điện tử màu bạc, kích thước (6,5 x 12) cm có dán chữ “200g/0.01g QC.PASS” là vật nhà nước cấm lưu hành và vật chứng không có giá trị. Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone có số IMEI 352998091833680. Tịch thu cho tiêu hủy 01 sim số seri 8984048000950073425 là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội. Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 7.980.000 đồng bị cáo do phạm tội mà có. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản xét nghiệm chất ma túy, vật chứng đã thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 07/8/2025 đến ngày 12/8/2025, tại thôn V, xã Nam Sách, thành phố Hải Phòng, Hoàng Kim D đã 06 lần có hành vi bán trái phép ma túy loại Methamphetamine, cụ thể: 02 lần D bán ma túy cho T với tổng số tiền 6.000.000 đồng, 03 lần D bán ma túy cho Đ với tổng số tiền 1.500.000 đồng; 01 lần D bán ma túy cho T với số tiền 480.000 đồng. Đến 20 giờ 25 phút ngày 12/8/2025 khi D đang cất giấu 6,665 gam ma tuý, loại Methamphetamine trong người với mục đích để bán kiếm lời thì bị lực lượng Công an xã Nam Sách, thành phố Hải Phòng phát hiện, bắt quả tang, đồng thời khám xét nơi ở của D và thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán chất ma túy là trái pháp luật, bị nghiêm cấm nhưng vì mục đích tư lợi nên đã cố ý thực hiện. Bị cáo đã 06 lần bán trái phép chất ma túy, loại methamphetmine với tổng khối lượng thu giữ là 6,665 gam với mục đích kiếm lời. Mặt khác, bị cáo đã có 03 tiền án về tội phạm nghiêm trọng, chưa được xóa án tích mà nay bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu nhưng không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai nhận tội nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo đã nhiều lần bán trái phép chất ma túy và đã thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số ma tuý hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì dán kín số 750MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng; 56 túi ni lông màu trắng, có viền màu xanh, kích thước (2 x 2,5) cm; 01 vỏ chai nhựa, loại 480ml, có in chữ “ICE+ Nước vị trái cây” lắp chai màu xanh, trên lắp chai có hai lỗ tròn được cắm 02 ống hút nhựa màu đen; 01 cân điện tử màu bạc, kích thước (6,5 x 12) cm có dán chữ “200g/0.01g QC.PASS” là vật nhà nước cấm lưu hành và vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone có số IMEI 352998091833680 của bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, xét chiếc điện thoại còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho phát mại sung quỹ nhà nước theo định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 sim số seri 8984048000950073425 của bị cáo xác định hiện không còn tiền, không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Tập đoàn công nghiệp - Viễn thông quân đội (Viettel) thu hồi số thuê bao di động 0368035513 và tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền trong tài khoản của số thuê bao di động (nếu có).

Đối với số tiền 7.980.000 đồng bị cáo thu lợi từ việc bán trái phép chất ma túy cần thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự như sau: Đối với số tiền 4.828.913 đồng trong tài khoản số 1046841578 tại Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam, chủ tài khoản Hoàng Kim D, hiện đang bị phong tỏa theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 9527/LPT-CSMT ngày 02/12/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hải Phòng là tiền bị cáo bán ma túy mà có nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Tài khoản được gỡ phong tỏa sau khi thi hành án xong. Đối với số tiền 400.104 đồng trong tài khoản số 19074606641014 tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam, chủ tài khoản Trần Mạnh Huy, hiện đang bị phong tỏa theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 9526/LPT-CSMT ngày 02/12/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hải Phòng là tiền bị cáo bán ma túy mà có nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Tài khoản được gỡ phong tỏa sau khi thi hành án xong. Truy thu của bị cáo số tiền 2.750.983 đồng là tiền bị cáo thu lợi do bán trái phép chất ma túy.

Đối với người phụ nữ tên Cún đã bán ma tuý cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với anh Nguyễn Hồng Q là người cho Hoàng Kim D thuê nhà, anh Trần Mạnh H là người cho D mượn tài khoản ngân hàng, nhưng anh Q không biết việc D sử dụng nhà, anh H không biết D sử dụng tài khoản ngân hàng vào việc mua bán trái phép chất ma tuý nên không đặt ra việc xử lý.

Đối với Phùng Văn T là người mua ma tuý của D để bán kiếm lời, sau đó bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng phát hiện và khởi tố, xử lý trong vụ án “Mua bán trái phép chất ma tuý” khác nên không đặt ra việc xử lý trong vụ án này.

Đối với Đặng Văn T và Trần Danh Đ là người mua ma tuý của D để sử dụng cho bản thân thời điểm tháng 8/2025 nhưng không nhớ thời gian và địa điểm sử dụng. Tại thời điểm phát hiện, tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể T và Đ đều âm tính với chất ma túy nên không đủ căn cứ xử lý.

Đối với hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Kim D, xét thấy D không thuộc diện xử lý theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 nên Công an thành phố Hải Phòng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D là phù hợp nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm b, i, q khoản 2, khoản 5 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Kim D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hoàng Kim D 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 12/8/2025.

- Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Hoàng Kim D 5.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

- Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma tuý hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì dán kín số 750MT/PC09 có các chữ ký ghi họ tên Khúc Quang Tuấn, Nguyễn Văn Đoàn, Đặng Đình Châu và các dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng; 56 túi ni lông màu trắng, có viền màu xanh, kích thước (2 x 2,5) cm; 01 vỏ chai nhựa, loại 480ml, có in chữ “ICE+ Nước vị trái cây” lắp chai màu xanh, trên lắp chai có hai lỗ tròn được cắm 02 ống hút nhựa màu đen; 01 cân điện tử màu bạc, kích thước (6,5 x 12) cm có dán chữ “200g/0.01g QC.PASS”.

Tịch thu cho phát mại sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone có số IMEI 352998091833680.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 sim số seri 8984048000950073425.

(Vật chứng hiện do Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 - Hải Phòng đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/3/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng và Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 - Hải Phòng).

Đề nghị Tập đoàn công nghiệp - Viễn thông quân đội (Viettel) thu hồi số thuê bao di động 0368035513 và tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền trong tài khoản của số thuê bao di động (nếu có).

Sung quỹ nhà nước số tiền 7.980.000 đồng mà bị cáo thu lợi từ việc bán trái phép chất ma túy như sau: Tịch thu số tiền 4.828.913 đồng trong tài khoản số 1046841578 tại Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam, chủ tài khoản Hoàng Kim Dũng, hiện đang bị phong tỏa theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 9527/LPT-CSMT ngày 02/12/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hải Phòng. Tịch thu số tiền 400.104 đồng trong tài khoản số 19074606641014 tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam, chủ tài khoản Trần Mạnh H, hiện đang bị phong tỏa theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 9526/LPT-CSMT ngày 02/12/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hải Phòng. Các tài khoản này được gỡ phong tỏa sau khi thi hành án xong. Truy thu của bị cáo số tiền 2.750.983 đồng là tiền bị cáo thu lợi do bán trái phép chất ma túy.

- Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Kim D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ