vanban.org

Bản án 38/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 29/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024 và 2025) đối với bị cáo Lâm Chanh T

* Tuyên bố bị cáo Lâm Chanh T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” . * Xử phạt bị cáo Lâm Chanh T 02 (hai) năm tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt để chấp hành án. * Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Cơ quan cảnh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Chanh T - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024 và 2025) đối với bị cáo Lâm Chanh T
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2026/HS-ST
Ngày 29-4-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Công Minh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Hoàng Việt. 2. Ông Nguyễn Kim Phước.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Thành – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Cường - Kiểm sát viên. Trong ngày 29/4/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2026/TLST-HS ngày 09/4/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2026/QĐXXST-HS ngày 20/4/2026 đối với bị cáo:

Lâm Chanh T (tên gọi khác: Không có); Sinh ngày 01 tháng 01 năm: 2000 tại: tỉnh Sóc Trăng (nay là thành phố Cần Thơ); Nơi cư trú: Ấp K, xã L, thành phố Cần Thơ; Nơi ở hiện nay: Ấp K, xã L, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm Ú (đã chết) và bà Kim Thị T1; Tiền án: Không có; Tiền sự: Không có; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam trong trong vụ án Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Đinh H, sinh năm 1992, địa chỉ: Ấp K, xã L, thành phố Cần Thơ (có mặt).

- L, sinh năm 1996, địa chỉ: Ấp B, xã L, thành phố Cần Thơ (có mặt).

* Người làm chứng: Kim Thị T1, sinh năm 1962, địa chỉ: Ấp K, xã L, thành phố Cần Thơ (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trước ngày 12 tháng 7 năm 2025 khoảng 4 đến 5 ngày, Lâm Chanh T liên hệ một nam thanh niên tên H1 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) tại khu vực cầu L đường S để mua ma túy đá với số tiền là 200.000 đồng và nỏ thủy tinh với số tiền là 70.000 đồng, sau khi mua bị cáo mang ma túy về nhà gắn nỏ vào chai nhựa đổ ma túy vào đốt nóng sử dụng một mình tại khu đất vườn phía sau nhà thuộc ấp K, xã L, thành phố Cần Thơ. Sau khi sử dụng ma túy xong bị cáo để dụng cụ trong bụi cây ở khu đất vườn sau nhà. Đến ngày 11 tháng 7 năm 2025, bị cáo tiếp tục liên hệ H1 để hỏi mua ma túy như lần trước, khi mua ma túy về Tha chia ra sử dụng hai lần, lần thứ nhất bắt đầu sử dụng vào buổi sáng khoảng 09 giờ. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, bị cáo tiếp tục lấy số ma túy còn chừa lại đốt nóng sử dụng ở khu đất vườn phía sau nhà. Đến ngày 12 tháng 7 năm 2025 thì bị cáo bị Công an xã L mời về trụ sở làm việc và lấy mẫu nước tiểu kết quả dương tính với ma túy.

Bản kết luận số 302/KL-KTHS ngày 08 tháng 8 năm 2025 của Phòng K, Công an thành phố C đã kết luận “Mẫu gửi giám định tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra xác định bị cáo Lâm Chanh T đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo hồ sơ và Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, thành phố Cần Thơ nhưng bị cáo đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy 03 lần vào khoảng 04 đến 05 ngày trước ngày 12 tháng 7 năm 2025 bị cáo có sử dụng ma túy một mình tại khu đất vườn phía sau nhà thuộc ấp K, xã L, thành phố Cần Thơ. Đến ngày 11 tháng 7 năm 2025 bị cáo tiếp tục sử dụng ma túy một mình 02 lần tại khu đất vườn phía sau nhà bị cáo thuộc ấp K, xã L, thành phố Cần Thơ.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Không có.

* Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lâm Chanh T thống nhất với kết luận giám định, bị cáo khai nhận: Bị cáo đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, thành phố Cần Thơ nhưng trước ngày 12/7/2025 khoảng 4 -5 ngày bị cáo đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy 01 lần tại khu đất vườn phía sau nhà bị cáo thuộc ấp K, xã L, thành phố Cần Thơ. Đến ngày 11 tháng 7 năm 2025 bị cáo tiếp tục sử dụng ma túy một mình tại sau nhà như lần trước, đến ngày 12/7/2025 thì Công an xã L mời về trụ sở làm việc và lấy mẫu nước tiểu kết quả dương tính với ma túy.

* Tại Cáo trạng số 48/CT-VKSCTO -KV ngày 07/4/2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ đã: Truy tố ra trước Toà án nhân dân Khu vực 9

- Cần Thơ để xét xử bị cáo Lâm Chanh T về tội Sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2024 và 2025).

* Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố cáo Lâm Chanh T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổ bổ sung năm 2017, 2024 và 2025) xử phạt: Bị cáo Lâm Chanh T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy.

Nói lời sau cùng tại phiên tòa, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa cho thấy bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trước đây của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Bị cáo Lâm Chanh T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thường xuyên sử dụng ma túy và đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, thành phố Cần Thơ nhưng bị cáo đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy 03 lần vào khoảng 04 đến 05 ngày trước ngày 12 tháng 7 năm 2025 bị cáo có sử dụng ma túy một mình tại khu đất vườn phía sau nhà thuộc ấp K, xã L, thành phố Cần Thơ. Đến ngày 11 tháng 7 năm 2025 bị cáo tiếp tục sử dụng ma túy một mình 02 lần tại khu đất vườn phía sau nhà bị cáo thuộc ấp K, xã L, thành phố Cần Thơ. Tại Bản kết luận số 302/KL-KTHS ngày 08 tháng 8 năm 2025 của Phòng K, Công an thành phố C đã kết luận “Mẫu gửi giám định tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine”. Như vậy hành vi của bị cáo Lâm Chanh T đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ truy tố bị cáo Lâm Chanh T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024 và 2025) là có căn cứ, đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo Lâm Chanh T là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý về các chất ma túy của Nhà nước đồng thời còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không tiền án, tiền sự nhưng bị cáo đã bị xét xử về tội Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản theo Bản án số 32/2026/HS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9

- Cần Thơ chưa có hiệu lực pháp luật. Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc Khmer. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024 và 2025 đối với bị cáo, để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với người thanh niên tên là H1 bán ma túy cho bị cáo T nhưng không xác định được con người cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C sẽ tiếp tục xác minh khi có đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối với D, S, X (không rõ thông tin cụ thể) quá trình xác minh không xác định được thông tin, họ tên, địa chỉ cụ thể nên không làm việc được. Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai của Đinh H, Lý H2 xác định sau khi cùng với Đinh H và bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và cướp giật tài sản thì H2 có mua ma túy với số tiền 1.900.000 đồng sau đó đem chia ra làm 03 (ba) phần, mỗi người một phần đem về tự sử dụng một mình, tuy nhiên do có uống rượu say nên bị cáo T làm mất phần ma túy trên nên khi sử dụng bị cáo phải liên hệ người thanh niên tên H1 để mua ma túy sử dụng. Qua làm việc với bà Kim Thị T1 là mẹ ruột của bị cáo T, bà T1 cho biết vào ngày 11 tháng 7 năm 2025 bà thấy bị cáo T có cầm chai nhựa giống bộ dụng cụ để sử dụng ma túy đi ra phía sau nhà, T chỉ đi một mình. Do đó Cơ quan điều tra không xử lý về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.

Về án phí: Căn cứ điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lâm Chanh T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024 và 2025) đối với bị cáo Lâm Chanh T

* Tuyên bố bị cáo Lâm Chanh T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” . * Xử phạt bị cáo Lâm Chanh T 02 (hai) năm tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt để chấp hành án.

* Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Cơ quan cảnh sát điều tra không có thu giữ nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

* Về án phí: Căn cứ điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lâm Chanh T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ